TRAN XUAN AN - PCDT NGUYEN VAN TUONG (tap III A)

Sunday, December 18, 2005

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A 6)

Tệp 6 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 6 TRUYỆN KÍ THỨ 9)

TRẦN XUÂN AN

BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI


Truyện kí thứ chín
(phân đoạn 6)

23

Vua Tự Đức đang lâm bệnh, nhưng nhà vua cũng cố gắng ngồi dậy thiết triều để chung niềm vui chiến thắng với các quan tại kinh cùng thần dân kinh đô Huế và quan dân cả nước. Sau buổi thiết triều đầy tinh thần quyết chiến, một mất một còn, bởi thế cỡi hổ đã thành ấy, nhà vua lên ngự giá trở về long sàng.
Các đại thần bấy giờ còn đứng ở Điện Văn minh. Triều thần vẫn đang tiếp tục bàn với nhau có nên hay không nên tâu xin mở tiệc khao quân để quân binh và thần dân lấy lại khí thế.
Quan quản lí Binh Bộ sự vụ Trần Tiễn Thành phản đối:
- “Trận tuy thắng nhưng phỏng có ích gì! Giết Henry Rivière mới là trừ được một người thù. Nhưng rồi đây sẽ có trăm ngàn người Pháp khác thay cho Henry Rivière. Trận ô Cầu Giấy không lợi gì hết mà chỉ hại cho việc giao thiệp của hai nước sau này. Mai mốt quân Pháp lại kéo ra đánh lấy Hà Nội, rồi dần dần đánh lấy cả thành Huế này nữa thì quân ta chống sao được…” (224) .
Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đã từ lâu rất căm giận Trần Tiễn Thành, ông nói:
- Thật là hèn nhát! Là người sống trên Đất nước này, phải xả thân để trả nợ nước, nữa là ăn cơm vua, gạo dân Đại Nam, lẽ nào lại chỉ tính chuyện đầu hàng giặc. Nông nỗi quân binh yếu hèn đến thế là vì ai, quan Văn minh điện đại học sĩ hẳn tự biết! Quan lớn không biết xấu hổ cho bản thân mình sao? Hơn nữa, lúc này đã có quân Tàu hậu thuẫn, họ sẽ nỗ lực giúp ta…
Chưa bao giờ Trần Tiễn Thành bị mắng thẳng trước mặt giữa triều thần như thế. Mặc dù bệnh, nhưng ông ta thấy cần phải nói để lấy lại uy lực gần đây bị xói mòn không ít do những lời chỉ trích của triều thần. Trần Tiễn Thành cũng không kịp kìm cơn giận âm ỉ bấy lâu, nay không thể không nổ bùng. Ông ta cãi vả kịch liệt với Tôn Thất Thuyết.
Một lát, Trần Tiễn Thành nói chậm lại, môi run run vì bị kích động:
- “Tôi là người Tàu, lẽ tự nhiên là tôi phải nói hay cho nước Tàu. Song cứ xét ở thực sự thì quân Pháp tuy ít nhưng tinh nhuệ, lại có khí giới chỉnh bị. Quân Tàu và ta tuy đông nhưng không có thao luyện. Quân Tàu, tôi dám chắc rằng không thể thắng được quân Pháp” (224) .
“Tôn Thất Thuyết không bàn nữa, phủi áo quần đứng dậy, nói” (224):
- “Ông là người Tàu mà ông khinh nước Tàu, không biết nhục!” (224)
.
“Phái chủ chiến do Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chủ trương. Chủ hoà, do Trần Tiễn Thành đứng đầu…” (224) . Các triều thần, dù “hoà” hay chiến, thấy đã đến lúc không thể không can thiệp. Một tham tri nói:
- Xin quan thượng thư Bộ Hộ nói cho một tiếng, không nên mất đoàn kết trong nội bộ thế này.
Từ khi xảy ra cuộc tranh luận dữ dội, quan Bộ Hộ họ Nguyễn chỉ im lặng. Ông cũng thấy không nên để cuộc đấu khẩu này to tiếng hơn, ông nói:
- Tôi xin hai quan lớn Bộ Binh bớt giận dữ. Chuyện đâu có đó, nguôi giận hãy bàn tiếp, để cùng nhau giải quyết vụ việc. Thật ra, chuyện mở tiệc khao quân hay không cũng chưa được sắc dụ ban cho đình nghị. Đây cũng không phải nơi bàn việc để tâu trình. Vả lại, vấn đề lớn hơn nhiều, đằng sau vụ việc này, đó mới là cái phải quan tâm. Tôi chỉ nói vắn tắt, “thế cỡi hổ đã thành” ! Thật sự ta không đánh bọn Pháp, chúng cũng đánh ta. “Hoà” cũng không được nữa, mặc dù “hoà” là hạ sách, đau lòng và nhục nhã vô kể. Tục ngữ ta có câu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”. Cực chẳng đã mà đức vua bản triều phải “hoà” với Pháp và Y, ngay nước Thanh cũng phải “hoà” với Nga, Đức, Anh, Mỹ, Pháp… Nhưng lúc này, một là, không chiến thì bọn Pháp không lùi chân, không chùn tay; hai là, chúng lại quyết đánh ta đến cùng. Vậy thì không thể không chiến. Dứt khoát phải chiến. Phải giành giữ cái thế không khuất phục, mới nói chuyện với bọn Pháp được (225). Không thể cứ chuyên nhất một đường lối chủ “hoà”, mà phải biết linh hoạt, kinh quyền, “dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái bất biến [là tinh thần yêu nước, chống Pháp] mà ứng xử tuỳ mọi tình thế [giữa địch và ta…]). – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –. Tôi chỉ xin hai quan Bộ Binh giữ tình đoàn kết và cũng chỉ xin nói như vậy.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường muốn nói thêm một điều nữa: Nếu bị bọn Pháp dồn đến mức cuối cùng, thì cũng quyết đánh một trận tối hậu rồi chết cũng đành, bởi đạo lí nghìn đời là “thà chết vinh còn hơn sống nhục” (ninh thụ tử [vinh], bất ninh [sinh] thụ nhục) . Rồi người khác, hay thế hệ sau, sẽ tìm cách cứu gỡ khỏi ách nô lệ. Lớp sau sẽ có lớp sau nữa kế tiếp. Và cứ như thế. “Tre già măng mọc”, lo gì! Ông không muốn nói ra thành lời, bởi ông ngại các quan đang đứng xung quanh sẽ suy diễn ra: Thượng thư Nguyễn Văn Tường chấp nhận triều Nguyễn sụp đổ tan nát trong vinh quang, để sử sách sẽ nhìn đời ca ngợi như đã từng ca ngợi và mãi mãi ca ngợi triều đại Hai Bà Trưng, triều đại Mai Hắc Đế, triều đại Hậu Trần…
Nhưng không ai nói gì nữa. Họ thi lễ rất đúng phong thái kẻ sĩ đại quan, chào nhau, ra về.

24

Tháng tư nguyệt lịch Quý mùi (1883), nhân dân các tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Ninh Bình lại gặp cơn giáp hạt, đói kém. Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn Tường phải lo toan việc phát chẩn cho dân vượt qua nỗi ngặt nghèo (226). Hơn nữa, nhà vua đang trong những ngày chống chỏi một cách tuyệt vọng với những cơn ho liên tục, với ung nhọt căng cứng sau lưng, không thuốc thang, mổ xẻ nào lành lặn hẳn. Do đó, tiệc khao quân phải đình hoãn, chỉ treo cờ khắp kinh thành và các tỉnh thành để thể hiện niềm vui, tự hào chiến thắng. Chiến thắng mà không vui lại là một sai lầm, khiến người dân hoang mang không hiểu vì sao, rất không tốt.
Quân thứ Bắc Ninh chợt có tin quân báo, quân thứ Sơn Tây và vài toán quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc lại hành binh xuống đánh tiếp, mở trận địa ngay tại mặt phố Hà Nội (227). Tham tán Bùi Ân Niên, tổng đốc Trương Quang Đản liền cho quân vượt sông Hồng, hội quân lại, cùng quyết đánh bọn Pháp (227). Quân Bắc Ninh được lệnh đem súng lớn đến đặt trên đê Nhị Hà (sông Hồng), bắn suốt mấy ngày. Tàu binh của quân Pháp không khỏi bị tổn thương, có một, hai chiếc thủng cả mạn tàu, có chiếc gãy đổ cột buồm, nghiêng nghiêng bỏ chạy như chú gà chiến bại. Bọn Pháp không dám nghênh chiến. Rất tiếc quân ta không có thuỷ quân với tàu chiến tối tân để tiếp tục rượt đuổi tàu Pháp.
Sau đó, quân thứ Sơn Tây rút về phủ Hoài Đức (Hà Nội). Nước lũ mùa hạ lại tràn về, sông Hồng cuồn cuộn sóng, mực nước dâng lên từng khắc một. Các cỗ súng phải chuyển dời về đặt trên bờ sông Chiêm Đức, binh dõng về cố thủ Gia Lâm, tăng cường phòng bị (227).
Rất nức lòng và mong tin chiến thắng, trên giường rồng, vua Tự Đức cố nén cơn đau âm ỉ và ran ran trong ngực ngỡ có khi ngạt thở, để cầm bút châu phê: “Binh luyện sao dã rút về! Không trách mấy ngày nay mong tin thắng trận không thấy. Đánh giặc chỉ có hai quân thứ các ngươi, bọn ngươi đều nên nghĩ kĩ, làm thế nào cho xứng đáng mới được” (227) .
Dẫu chưa thắng lớn, đó cũng là một tin vui từ mặt trận.
Tháng tư nguyệt lịch Quý mùi (1883) vẫn lần lượt ngày nối ngày trôi qua trong nỗi mong chờ tin báo tiệp.
Nhưng từ Gia Định, khâm phái lãnh sự Nguyễn Lập tâu trình ông ngã bệnh, xin về để điều trị. Nguyễn Thành Ý được lệnh dụ vào thay (228). Và một tin cấp báo khác: người khách (nước Thanh) tên là Chu Nhi lại giả mạo làm phái viên Tây dương, doạ nạt phố Hà Nội. Lệnh chém liền ban ra (229).
Giặc biển tháng trước mới quấy nhiễu thành phủ Thái Bình tỉnh Nam Định. Lực lượng đến sáu mươi (60) tàu thuyền và khoảng năm đến sáu trăm tên hải tặc. Tạ Hiện, Hoàng Văn Phú ở sở tại cùng quân tỉnh bạn Hưng Yên quét sạch chúng khỏi thành (231). Tháng năm nguyệt lịch, Quảng Yên lại đánh bắt bọn hải tặc, thắng trận (230). Những tên Bình, tên Mía, tên Nghĩa là tướng giặc đều chịu rơi đầu (231). Nội phỉ vẫn còn chưa dứt hẳn, thậm chí chúng toan đục nước béo cò!
Tháng tư, bố chính sứ Quảng Tây Từ Diên Húc, người đã nhiều lần xướng hoạ thơ văn với thượng thư Nguyễn Văn Tường hồi ông còn là tán lí quân vụ, lại từ Lạng Sơn đến Bắc Cần (232).
Ở kinh đô, thượng thư Nguyễn Văn Tường theo dõi và trực tiếp chỉ đạo cho Bùi Ân Niên tiếp xúc với Từ Diên Húc. Bùi Ân Niên đến gặp họ Từ, thương thuyết về hiện tình Bắc Kì. Từ Diên Húc nói: “Sang lần này, tất vì nước Nam cứu ứng, duy mùa xuân năm nay, Lý Hồng Chương gặp mặt, trách công sứ Pháp ở Thiên Tân [Trung Hoa] là Bảo Hải [:Bourrée], nói “Nước Nam là thuộc quốc cũ của nước Thanh, đã hoà, sao được cùng phạm”. Bảo Hải đưa trình tờ “hoà” ước. Trong “hoà” ước có câu “Nước nam là nước tự chủ”. [Bảo Hải (Bourrée)] bảo rằng, không can thiệp gì đến Trung Quốc, cho nên Trung Quốc lấy giúp ngầm làm chủ, cốt không cho nước ấy mượn cớ [gây chiến]. [Nhưng] nếu quả là [hai nước Trung, Pháp] cùng xâm phạm [đến “hoà” ước], thì tất phải chiến tranh. Nay đã giúp súng ống cho doàn quân Lưu Vĩnh Phúc, lại [đã] khuyên [Lưu Vĩnh Phúc] đánh giúp” (232) .
Bùi Ân Niên về lại doanh trại quân thứ, viết sớ dâng vào kinh. Ở Viện – Bạc, thượng thư Nguyễn Văn Tường đọc thấy: “Bố chính họ Từ sang lần này thực có ý cứu giúp nước ta. Xin sắc cho quan ở bộ viết thư yên ủi, khuyên cố sức mưu toan” (232) . Thượng thư Nguyễn Văn Tường bàn với thượng thư Tôn Thất Thuyết rồi tâu lên vua. Vua chuẩn y.
Tháng năm nguyệt lịch Quý mùi (1883), công việc ngoại giao vẫn lại tiếp diễn. Từ Diên Húc cùng với thống lãnh Hoàng Quế Lan, Triệu Ốc chuyển quân đến Bắc Ninh, lại phái tiến sĩ chủ sự Đường Cảnh Tùng đem hai trăm (200) quân tinh nhuệ đến đóng kề doanh trại Lưu Vĩnh Phúc, trù tính kế hoạch. Bùi Ân Niên khoản đãi, và nói: “Quý đại nhân sang lần này có tờ dụ rõ ràng. Vua nước Thanh dụ cho giữ gìn Bắc Kì. Xin hết sức giúp cho” (232) . Từ Diên Húc là bảo, “định vài ngày nữa [sẽ] về Long Châu [ở Trung Quốc], bàn định công việc” (232) .
Nằm trên giường bệnh, vua bảo: “… Sao đi lại nhiều quá thế! Phụ lòng trông ngóng người thì sao? Bọn ngươi nên gia tâm thương thuyết với viên bố chính ấy, xem cơ sự, hết sức làm việc” (232) .
Tình huống ấy khiến thượng thư Nguyễn Văn Tường, người chủ trương kiến nghị, được chuẩn y và được giao phó đặc trách liên minh quân sự với Trung Quốc, rất đỗi âu lo, nhất là từ tháng tư Quý mùi (1883), lúc ông nhận được tin từ phái bộ do Phạm Thận Duật dẫn đầu, hiện đang trú tại Thiên Tân (ở Trung Quốc):
“… Tháng hai [năm Quý mùi, 1883, trước thời điểm này hai tháng]… bọn [Phạm] Thận Duật đến Thiên Tân thì nước Pháp đã có thư đến, nói không chịu điều đình, và vin lấy cớ hoà ước năm Giáp tuất [1874] có câu: “Nước Đại Nam có quyền tự chủ, không phải theo phục nước nào”, [để] không cho nước Thanh nhận nước ta làm thuộc quốc. [Pháp] lại rút sứ [thần] Bảo Hải [:Bourée] về, mà cho Lý Đức Cố [:Tricou] sang thay. Sau [tức tháng tư, tháng năm này], [Pháp] lại lấy việc thuỷ sư nước [Pháp] ấy Lý Ba Lợi [:Henry Rivière] chết ở ô Cầu Giấy làm thâm thù, lí luận càng không ăn thua gì. Lý Hồng Chương lại đưa thư, báo cho Tăng Kỷ Trạch, là khâm sứ nhà Thanh đóng ở nước Anh, sai liên ước với sứ thần các nước Anh, Nga, Phổ, để giảng giải việc ấy, mà cũng chưa có thư trả lời…” (233) .
Dẫu biết không hề hoàn toàn thuận lợi, nhưng đây là tình thế bức bách, không thể không tiếp tục đẩy mạnh để tình thế thuận lợi hơn xuất hiện. Cũng không thể ngồi im chờ thời, mà phải tạo ra sự thuận lợi ấy! Thượng thư Nguyễn Văn Tường đã mật bàn cùng Tôn Thất Thuyết tại nhà vuông mới xây gần đây của Viện Cơ mật – Thương bạc thật tỉ mỉ, với sự dự kiến nhiều khả năng tốt, xấu sẽ xảy ra, cùng nhiều phương án… Hầu như hai đại thần này đã hoàn toàn chịu trách nhiệm trước vận mệnh Tổ quốc, số phận nhân dân, trước vua Tự Đức và các triều thần, biên thần, hoàng thân, tôn thất.

25

Thế là “quân Pháp đã thua. Phái viên nước Pháp ở Hà Nội lại sai người về Gia Định, đem thêm tàu binh chạy đến Bắc Kì. Khâm phái là Nguyễn Thành Ý đem việc tâu [về Huế để được phúc tâu] lên [vua]” (234) .
Vua Tự Đức ra sắc dụ, sau khi nghe Viện – Bạc tấu trình, kiến nghị:
“Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, sau khi đánh được thắng trận, đã lâu ngày, không thấy thừa thế tính lại ngay lại, để cho chúng có thì giờ mưu việc cứu viện. [Như thế] thì đến bao giờ mới phá được sào huyệt, đánh đắm được tàu, cho chúng chạy xa, để lấy lại hai tỉnh, cho yên lòng mọi người.
Vả lại, thế cưỡi hổ đã thành. Ta không tính [:đánh] chúng, chúng cũng tính [:đánh] ta. [Ai] tính [:đánh] trước được thì thắng. Nên cùng lòng, hợp sức tính [:đánh] ngay, khỏi đến nỗi đắp núi còn thiếu một sọt đất. Trẫm hàng ngày mong mỏi các ngươi nên hết lòng tính [:đánh] ngay mới được.
[Trẫm muốn] lại sai [thông] tư cho các quân thứ, các tỉnh biết để cố gắng tính [:đánh] ngay. Và [thông] tư cho khâm sai đóng ở Thiên Tân, khâm phái đóng ở Quảng Đông, bẩm khéo với Lý Hồng Chương và tổng đốc Quảng Đông, trù tính ngay cho, để khỏi sinh khó khăn” (234)
.
Lại nghe tin có thể có thuyền buôn gạo giúp lương thực cho giặc Pháp, hiện chúng vẫn đóng tại thành Nam Định, nhà vua liền có lệnh cấm thuyền buôn từ Quảng Bình ra đến Bắc Kì không được đi lại buôn bán ở tỉnh ấy (235). Đồng thời, vào tháng sáu, sợ xảy ra nạn đói, triều đình phải cấm nhân dân Bắc Kì không được chở thuê, bán gạo cho khách buôn, mặc cho Pháp đang thu thuế, cho xuất khẩu gạo (236).
Và tin tức, vào tháng sáu nguyệt lịch, Quý mùi (1883), lại tiếp tục bay về kinh đô: Tàu giặc Pháp, một lớn, một nhỏ, đi đến sông Hát, sông Nhật Chiểu thuộc Sơn Tây! Súng quân địa phương liền nổ. Một tên lính Pháp chết tại chỗ. Tàu giặc Pháp sợ hãi rút ngay (237). Khâm phái lãnh sự Nguyễn Thành Ý ở Gia Định lại bị Pháp trục xuất, với lí do: “Ở đây sợ có hại cho sáu tỉnh [Nam Kì]” (238) !

26

Vua Tự Đức lại trở căn bệnh cũ một cách nguy kịch.
Từ trước tháng chạp năm Nhâm ngọ (1882, bước sang 1883), sau khi Hà Nội thất thủ lần thứ hai khoảng vài tháng, nhà vua biết tình hình rất nan giải, không thể không âu lo, đau xót, nên đã ngã bệnh nặng. Trong thời gian đau ốm ấy, nhà vua đã quở trách hoàng quý phi Vũ thị và ra sắc dụ giáng xuống trung phi với những lời lẽ rất nghiêm, vẫn trên tinh thần luật pháp bất vị thân, cho dẫu đó là người vợ vốn được nhà vua sủng ái, trọng thị nhất: “Thế mà từ khi trẫm bị ốm nặng đến nay… […] … Nên phạt một người để răn trăm người, thấy phép mới biết ơn” (239) . Bệnh trầm kha đau đớn thân xác, khổ đau chua chát về tinh thần, cả hạnh phúc riêng tư cũng không trọn vẹn!
Bệnh lại đỡ. Nhưng “tự hạ tuần tháng tư, [vua Tự Đức] hơi yếu, vài ngày dần khỏi. [Nhà vua vẫn] cố sức làm việc. Những chương sớ các nơi, đều cho theo như thường dâng tâu, tuỳ việc phê phó. Rồi nhân khó nhọc, thành ra ốm nặng. Quan Viện Thái y hầu thuốc không có hiệu quả” (240) .
Khi “vua bị ốm, làm sẵn tờ di chiếu cho hoàng trưởng tử nối ngôi” . Bấy giờ, nhà vua còn “ngồi tựa ghế ngọc” ở Điện Cần chánh, trao tờ di chiếu và cả tờ di chúc cho ba đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc. Trần Tiễn Thành đã vâng lệnh vua, đọc di chiếu cho bốn vua tôi cùng nghe. Nguyễn Văn Tường phụng dụ đọc di chúc, cũng với cách thức như thế (241).

DI CHIẾU (242)

“Chiếu rằng:
Trẫm là con thứ hai của bà [vợ] cả [:chánh thất] của đức tiên đế. Nhờ trời đất, ông cha cho nối nghiệp lớn, làm vua nước Nam ba mươi sáu (36) năm nay. [Trẫm] lo sợ hằng ngày, thường sợ không dám làm nổi, khốn nỗi người yếu, đức mỏng, tài kém, lỗi nhiều, đương mong đổi lỗi chưa xong, đâu dám quá nghĩ thành ốm. Duy lo lắng đã lâu, lại thêm khó nhọc; năm trước đã phát bệnh ho, hạ tuần tháng tư năm nay, bệnh bỗng phát to, trăm chứng hư tổn, đều phát ra cả. [Trẫm] đã uống thuốc để chữa, [nhưng bệnh] càng ngày càng tăng.
Lòng thành đến nay mới được hơi có cơ hội. Không may mà vội chết, để [lại nỗi] thương [:đau] đến muôn đời [chưa gỡ được].
[Cơ] trời khó tin, mạnh [:vận mệnh, số mệnh] không thường [:vô thường], phàm việc việc phải dự bị trước. Trẫm nuôi sẵn ba (03) con. Ưng Chân, cố nhiên là học lâu trưởng thành, chính danh đã lâu; nhưng mặt hơi có tật, giấu kín không rõ ràng, sợ sau không sáng; tính lại hiếu dâm; cũng rất là không tốt; chưa chắc đương nổi việc lớn. Nhưng nước cần có vua nhiều tuổi, đương lúc khó khăn này, không dùng hắn thì dùng ai? Sau khi trẫm muôn tuổi, nên cho hoàng tử Thụy quốc công Ưng Chân nối nghiệp lớn, lên ngôi hoàng đế. ([Ưng Chân,] ngươi nên nghĩ kĩ, sáng nghiệp, thủ thành đều khó khăn, nối theo không dễ. [Hãy] không dám bừa bãi chút nào, chỉ mong cho được việc, không thẹn với mệnh trời).
Tấn tôn hoàng thái hậu làm Từ Dụ thái hoàng thái hậu, ngõ hầu trẫm báo ơn muôn phần được một phần. Tôn trung phi làm hoàng thái hậu, coi việc bên trong, dạy bảo vua nối ngôi. Trẫm chỉ có một mẹ một con, ngày thường nương nhờ nhau. Nay không được tống chung mẹ [:tống tiễn mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng, mà mất trước mẹ], là trẫm đại bất hiếu. [Về trung phi,] mẹ con ngươi nên khéo thờ thái hoàng thái hậu, cốt cho vui lòng, ngày càng mạnh khoẻ, tiếng tốt trọn vẹn. Gia pháp bản triều rất nghiêm, từ trước không có lệ buông rèm nghe chính sự.
Bọn Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng ta gặp biết, tuy có sớm muộn hơi khác, mà lòng trung thành, yêu mến, chăm lo như một; từng làm việc nơi cơ yếu đã lâu, thân được chỉ bảo; nếu có gặp việc khó khăn, cũng giải quyết được. Vậy cho Trần Tiễn Thành sung làm phụ chính đại thần; Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết sung cùng là phụ chính đại thần. Bọn ngươi nên nghiêm sắc mặt đứng ở triều đình, giữ mình đứng đắn, đốc suất quan thuộc, mọi việc cùng lòng làm cho thỏa đáng; trên giúp vua nối ngôi điều không biết đến, dưới chữa chỗ lệch lạc cho các quan, để Nhà nước yên như núi Thái Sơn. Thế là không phụ sự ủy thác.
Thống đốc Hoàng Tá Viêm thân tuy ở ngoài [triều đình], thực quan hệ việc biên phòng, lâu nay dẹp yên biên giới Bắc Kì, trung thành, công nghiệp rực rỡ. [Nay trẫm] cho ngươi làm Trấn Bắc đại tướng quân. Các việc quân, bình Tây định Bắc, đều giao cho [ngươi] cả. Ngươi nên cố gắng, chớ bỏ mất mệnh lệnh của trẫm.
Thọ Xuân vương, Tuy Lý quận vương đều là rất thân, tuổi và đức cùng cao, trẫm vẫn kính trọng. Phàm thấy việc Nhà nước có điều gì không phải, nên nói hết để sửa chữa, cho đều được tốt, thế mới [nên] yên trong lòng.
Còn ngoài ra, hoàng thân, quốc thích, các quan lớn nhỏ trong ngoài, đều là phận nghĩa vua tôi, việc gì đợi kể tên, đều đem lòng trung lương để giúp vua các ngươi. Giúp được việc khó lúc này, để tiếng mai sau, mãi cùng [Đất] nước, cùng hưởng phúc vô cùng.
Phải kính theo dụ này”.
“[Tái bút:] Lại cho hoàng tử thứ ba [Ưng Đăng, từ nay chính thức] sung làm hoàng tử. Lăng mộ đều làm theo tiết kiệm. Về miếu hiệu xưng tôn, trẫm không có công to, không được coi là tổ. Trẫm sẽ nói rõ ở tờ di chúc sau này [:sau đây]” (242).

DI CHÚC (243)

“1. Trong ba (3) người con, thì Ưng Chân đã nói rồi.
Ưng Kỹ người yếu hay ốm, có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người khác, cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần lương, theo lời phải; sợ bọn ngươi khó lấy lời nói can được.
Duy con út là Ưng Đăng, hầu hạ cẩn thận, biết sợ [trời mà lo cho đời], dạy được, chưa thấy có vết gì, nhưng tuổi còn ít, đương học chưa thông, đương lúc khó khăn này chưa chắc đã am hiểu. Cho nên trẫm cắt bỏ lòng riêng, theo lẽ công, quyết thi hành mưu kế lớn, là vì xã tắc. Nghĩ ơn nuôi nấng hết lòng, không nên để cho phân biệt, nhưng chưa kịp làm, nay cho sung làm hoàng tử, cho đổi tên là Ưng Hỗ. Ngươi, là Ưng Chân, phong cho [Ưng Hỗ] tước công, xây dựng cửa nhà vườn ruộng, phái người cẩn thận sung làm giúp việc, chọn con gái lương gia làm thiếp hầu, khiến cho học hành thông thuần, giữ phú quý mãi.
Anh em các ngươi, biết hoà thuận, yêu mến nhau, trước sau như một, [thì] cũng có thể yên lòng ta nơi chín suối.
2. Điện Hoà khiêm, làm chỗ chôn, sau làm chỗ thờ. Còn Điện Lương khiêm để làm chỗ thờ vọng mẹ ta, [phía] sau cũng đặt một án không, không có bài vị. Bọn ngươi cũng sớm tối dầu chè, thờ phụng cho cẩn thận, cho tấm lòng ngày thường nhờ nhau không quên. Hai nhà từ trước vẫn dùng thì nhà học [phi], thiện [phi], hai phi ở, nhà Minh ôn thì chứa đồ thờ, hoặc tiếp khách, còn thì chia nhau mà ở. Nữ quan thì để lại Thị Kiên, Thị Để, Thị Siêu, Thị Lai, thái giám là Nguyễn Phượng cùng một người cung giám, đủ làm việc. Còn thì để hầu vua nối ngôi. Chúng đều hơi quen.
3. Ngọc trân châu, kim cương, khoảng năm Minh Mệnh, Thiệu Trị mua nhiều, để làm mũ đai vua dùng. Nay thì một tí [cũng] không dùng. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, những ngọc đem làm đều là đồ cũ. Vua Hạ, vua Vũ ăn mặc tiết kiệm mà sắm mũ áo tế trời đất thì rất tốt đẹp, thực là thế đấy. Trẫm từ trước đến giờ, người yếu, mũ áo ít dùng đã lâu, là ý đã nghĩ đến việc ấy.
Còn việc khâm liệm, [thi hài] vẫn mặc áo khăn thường mà thôi. Tất cả mũ đai châu ngọc là thứ khó mua, để lại cho vua nối ngôi truyền cho con cháu đời đời dùng mãi. Sau có đời nào giàu có thừa thãi thì làm lại.
Phàm là thần tử người nào trái lệnh là bất trung bất hiếu, không có tội nào to lớn hơn nữa, quyết không thể trái được.
Lăng mộ cũng đều theo tiết kiệm, không được trái ý trẫm.
Trẫm có tội với tổ tiên, không dám [được] thờ vào Thế miếu, trước đã nói rồi; chỉ có quan và dân lượng thứ cho. Miếu hiệu đều xưng tông, như phép nhà Hán, không đặt nhiều tên thụy. Trẫm không có công to, không được xưng là tổ; cũng nên theo thế mà làm” (243)
.

Đọc xong, mỗi người đều thi lễ, bước đến chiếc án thư chính giữa điện, trước ghế ngọc vua ngồi, kính cẩn đặt xuống hai bản di chiếu, di chúc ấy.
Nhà vua nói, giọng nhỏ yếu, với tất cả thành khẩn, thiết tha:
- Các khanh thấy thế nào? Đây là việc trọng đại quan hệ đến an nguy thiên hạ. Trẫm từ mấy chục năm nay, tự hiểu mình đức mỏng, không có con nối dõi… – Vua Tự Đức nghẹn ngào –. Nhưng thôi… Bây giờ, các khanh cho trẫm biết, di chiếu, di chúc như thế đã được chưa. Trẫm đã suy nghĩ, đắn đo nhiều, trước khi hạ bút.
Cả ba đại thần đều im lặng, không ai không xúc động, đau đớn. Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết hiểu nhà vua cần tham khảo ý kiến một cách cẩn trọng như những lần phải có quyết định trọng đại khác. Họ cũng không dám nói gì. Đợi một lúc lâu, nhà vua hơi quắc mắt giận dỗi. Một lát, vua nói:
- Các khanh có thể lui sau nhà vuông Viện Cơ mật – Thương bạc để bàn luận với nhau. Trẫm biết các khanh cẩn trọng và dè dặt… Thì cứ như thế. Hãy lui sau đó hội ý. Trẫm vẫn ngồi đây chờ các khanh, độ khoảng đọc xong vài ba trang sách.
Những thị vệ mở cửa nhà vuông, sau khi nghiêm chào. Ba đại thần bước vào, ngồi ở hai ghế trường kỉ, giữa họ là chiếc bàn mặt gỗ rộng.
- Hai quan lớn thấy sao? – Quan Văn minh điện đại học sĩ khơi vấn đề –.
Ngẫm nghĩ một lúc, hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường nói, giọng trầm hẳn, đầy ưu tư:
- Tôi thấy đoạn răn bảo cho vua nối ngôi Thụy quốc công Ưng Chân, không hợp với bài di chiếu lắm. Dụ răn bảo thì đúng, phải thật, phải cụ thể, nhưng đây là di chiếu, sẽ công bố cho toàn dân thiên hạ, e không hợp (244).
- Tôi nghĩ nên để riêng đoạn ấy vào một bài dụ khác. Không nên không răn bảo. Nhưng ý của quan lớn Bộ Hộ là rất chí lí. – Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết góp lời –.
- Tôi cũng nhất trí vậy. Và thế thì xin quan Bộ Hộ chấp bút viết cho bản sớ khoảng năm, sáu hàng chữ thôi.
Viết xong bản sớ, họ chuyền tay nhau đọc lại, kí tên vào. Sau đó, cả ba đại thần bước sang Điện Cần chính. Vua Tự Đức đang ngồi trên ghế ngọc, vẫn gương mặt xanh xao, đang tranh thủ đọc, suy nghĩ, châu phê trên các nguyên bản tấu sớ hoặc các phiến tâu (vốn đã tóm lược các bản tấu, sớ từ các tỉnh).
Quan Văn minh điện, quản lí sự vụ Bộ Binh Trần Tiễn Thành tấu trình bản sớ. Vua Tự Đức cau mày, bảo:
- Các khanh nói chí lí. Nhưng không thể bớt đoạn ấy, cũng không sang qua một bản dụ khác. Trẫm đã nghĩ kĩ. Vua nối ngôi phải được trăm quan, bá tánh biết rõ thói hư tật xấu để không thể tái phạm. Thiên hạ, triều thần là tai mắt kiểm sát thường xuyên. Trẫm “nghĩ việc phó thác tôn miếu, xã tắc là việc trọng đại, lo sâu nghĩ xa, cho nên nói khẩn thiết như thế. Đại thần được dự nghe mệnh lệnh dặn lại, phải nên trên thể theo ý […] [trẫm] mà tuyên bố cho mọi người nghe…” (241) . Phải công bố đúng với ý của trẫm như đã viết. – Ngừng lại, vua Tự Đức thoáng một chút đăm chiêu, nghĩ ngợi, rồi lại nói –. Trẫm nói vậy, các khanh phải cố hiểu ẩn ý của trẫm.
Ba đại thần đều hiểu vua Tự Đức từ lâu không muốn lập vua nối ngôi là Ưng Chân, mặc dù cũng từ rất lâu rồi, Ưng Chân đã được chính nhà vua chọn làm hoàng tử trưởng, một chức danh gần như thái tử (người chắc chắn sẽ được nối ngôi). Có một mâu thuẫn vô thức nào đó nhà vua không ý thức rõ rệt chăng? Hay nhà vua ý thức rõ rệt về những khuyết tật lẫn bản tính xấu xa khó sửa chữa của Ưng Chân, muốn đặt ba đại thần lẫn hoàng tộc, thần dân trước một ngã ba chọn lựa, nhưng nhà vua cố giấu? Rõ ràng khi đọc xong di chiếu, di chúc, bất kì người nào cũng nghiêng tình cảm và sự biểu quyết lựa chọn về phía Ưng Đăng, cho dẫu trên minh văn, rõ ràng nhà vua chỉ định Ưng Chân! Vì sự độc lập, tự chủ của Đất nước, vì sự ấm no của nhân dân, và vì sự bền vững của triều Nguyễn, người được chọn nối ngôi phải chính là Ưng Đăng, chứ không phải Ưng Chân hoặc Ưng Kỹ! Phải chăng vua Tự Đức muốn các đại thần, triều thần và hoàng tộc thanh minh cho nhà vua vụ Hồng Bảo bị phế, bằng cách truất phế Ưng Chân, kẻ không xứng đáng làm vua? Nghe nói, trong những ngày nằm trên giường bệnh, nhà vua còn bị ác mộng vì mặc cảm, mặc cảm ấy là do trước đây đã phải quyết định phạt tù anh ruột là Hồng Bảo (đến nỗi Hồng Bảo tự thắt cổ), rồi phải xuống lệnh xét án cháu ruột là Đinh Đạo, và mức án đúng luật là tử hình. Phải vậy chăng? Còn Ưng Chân, phải chăng Ưng Chân đã từ lâu đáng bị trừng phạt theo pháp chế triều Nguyễn, vì thói xấu và sai lầm của bản chất Ưng Chân, mà các đại thần, triều thần sẽ làm rõ sau khi nhà vua băng hà?
Thật không có gì rõ ràng đến mức tuyệt đối! Ba đại thần chỉ mới biết đến di chúc, di chiếu ấy trong sáng hôm nay, chưa đủ thời gian để phân tích, chiêm nghiệm những uẩn khúc. Liệu những phân tích, chiêm nghiệm có sa vào xuyên tạc hay ít ra cũng suy diễn chủ quan?
Không cách nào khác, ba đại thần tuân lời vua Tự Đức bảo, không dám tiếp tục tâu xin gác lại một đoạn di chiếu hoặc đưa đoạn ấy sang một bản dụ răn bảo khác. Cả ba vị quan đều không thể không băn khoăn theo suy nghĩ riêng của mỗi người trước việc trọng đại này. “Trẫm nói vậy, các khanh phải cố hiểu ẩn ý của trẫm”? Vậy là thế nào? Ba đại thần đều băn khoăn.
Trung tuần tháng sáu nguyệt lịch Quý mùi (1883) ấy, vua Tự Đức mệt nặng, chưa bao giờ gương mặt xanh xao, hốc hác và lộ rõ nét đau đớn đến thế. Nhà vua biết mình không thể qua khỏi căn bệnh này, trong hoàn cảnh nước nhà nguy khốn, gay go nhất.
“Đến ngày mười bốn (14) tháng [sáu] ấy, là ngày nhâm tuất, [vua Tự Đức] tuyên triệu Cơ mật viện đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào hầu. Vua ở trong cung, chính tay phê vào tờ di chiếu cho hoàng trưởng tử Thụy quốc công nối ngôi vua” (245) .
Ba đại thần đều rưng rưng nước mắt.
Hai hôm sau, “ngày mười sáu (16), là ngày giáp tí, giờ thìn (7 – 9 giờ sáng), vua [Tự Đức] mất ở Điện chính Kiền thành. [Khi] đặt [thi hài] vào quan tài, hoàng thân và các quan văn võ đều ở cả đấy. [Lúc] mở tờ di chiếu ở Điện Cần chính, vua nối ngôi là hoàng trưởng tử Thụy quốc công khóc lạy, nhận mệnh lệnh vào Điện Hoàng phúc cư tang” (245) .
Cùng với các đại thần và triều thần, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường vấn khăn, mặc áo quần chế bằng vải sô trắng, để tang vua Tự Đức. Nhớ đến ân tri ngộ quân phụ – thần tử với bao nhiêu tháng ngày trong suốt chín năm vua tôi gần gũi sớm hôm tại triều, luận bàn việc nước, cũng có khi thân thiết thăm hỏi chuyện con cháu, sức khoẻ, ông bật khóc. Ông cố kìm nén tiếng khóc, nhưng nước mắt cứ ràn rụa chảy trào.

Hết tệp 5 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh.


TRẦN XUÂN AN


(224) Phan Trần Chúc viết theo “Kí ức của khâm sai Huỳnh Côn do Jean Jacnal ghi lại” (Mémoires de S.E. Huỳnh Côn par Jean Jacnal), Vua Hàm Nghi (Nxb. Chính Ký, Hà Nội, 1951), Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995, tr. 4 – 6. Về cuốn sách “Vua Hàm Nghi” của Phan Trần Chúc, tôi đã có dịp phê phán trong các chú thích trước thuộc bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử này.

(225) Châu bản, bản tấu của Nguyễn Văn Tường ngày 10 tháng 08 năm Tứ Đức 26 (1873), dẫn theo: Trần Viết Ngạc, trong tập Các báo cáo khoa học (CBCKH.), Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 16.

(226) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 194.

(227) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 194.

(228) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 195.

(229) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 195.

(230) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 191.

(231) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 196.

(232) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 196 – 197.

(233) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 161 – 162.

(234) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 197.

(235) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 197.

(236) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 198.

(237) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 197 – 198.

(238) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 198.

(239) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 165 – 166.

(240) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 198.

(241) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 231.

(242) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 199 – 200.

(243) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 200 – 202.

(244) PCĐTTT., [trong đó có in lại bài viết của Đào Duy Anh trong Tập san “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.], Cadière làm chủ bút, số 4 – 6/ 1944), bản dịch Bùi Trần Phượng], Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 71 – 72.

(245) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 198.

Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2]).


TRẦN XUÂN AN


Ghi chú về tác giả:
Trần Xuân An
(có bài kí bút danh: Trần Ngôn Sử)
Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế;
Nhân tộc: Kinh (Việt Nam);
Quê gốc: Quảng Trị;
Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP. Huế (1974 – 1978);
Dạy học tại Lâm Đồng, 1978 – 1983;
Hiện nay, chuyên sáng tác, nghiên cứu
(Hội viên Hội Nhà văn TP. HCM.).

1971, cùng bạn bè chủ trương tập san Đất Vàng, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), với bút hiệu Huyên Đình (Người Mẹ).
1973, “Tiếng chuông xưa” , bài thơ lãng mạn đầu tiên in trên Tuổi Ngọc.
1975, được tặng thưởng “Một trong mười bài thơ hay nhất trong năm” của báo Văn nghệ Giải phóng.
1991, giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị.

DANH MỤC
TÁC PHẨM, SOẠN PHẨM, BIÊN KHẢO
CỦA TÁC GIẢ
(tính đến 2005)

Tác phẩm đã xuất bản và đã đăng kí bản quyền tại Cục bản quyền tác giả văn học nghệ thuật Việt Nam:

1. Nắng và mưa, thơ, Hội VHNT. Quảng Trị, 1991.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
2. Hát chiêu hồn mình, thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
3. Tôi vẫn ở trên đường, thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1993.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
4. Lặng lẽ ở phố, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
5. Kẻ bị ném vào bão, thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/
6. Hát với đời ơi thương mến, thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ Tp. HCM., 1998.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
8. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/
9. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
10. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
11. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM.
http://www.giaodiem.com tháng 11-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/ & … 2a … 2b … 2c …
12. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; NXB. Văn Nghệ TP. HCM., 2005
http://www.giaodiem.com tháng 7-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
Blogger tháng 12-2005
http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

Tác phẩm đã hoàn tất bản thảo:

13. Mùa hè bên sông (Nỗi đau hậu chiến), tiểu thuyết, 1997; hai bản đã sửa chữa và bổ sung, 2001 (lần hai) và 2003 (lần ba).
Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com tháng 6-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
14. Thơ những mùa hương, thơ.
Blogger tháng 11-2005
http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
15. Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên, thơ.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
16. Nước mắt có vị ngọt, tập truyện ngắn, 1999.
http://www.giaodiem.com tháng 10-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm

Soạn phẩm biên khảo đã hoàn tất bản thảo:

17. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003.
http://www.giaodiem.com tháng 8-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
18. Tiểu sử biên niên Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
19. Những trang Đại Nam thực lục về Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời kì đầu chống thực dân Pháp… (Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), chọn lọc, phần II, 2001.
20. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003. Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
21. Suy nghĩ về một số vấn đề trong lịch sử cổ đại nước ta, khảo luận, 7.2004.
http://www.giaodiem.com tháng 9-2005
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm

Địa chỉ:
71B Phạm Văn Hai,
Phường 3, quận Tân Bình
(cửa hiệu PHAN HUYÊN)
TP. HCM.
ĐT.: 08.8453955
& 0908 803 908
Email: tranxuanan_vn@yahoo.com


TRUY CẬP THÊM CÁC ĐỊA CHỈ WEBs/ BLOGs
(xin bấm vào LINKs sau đây):

http://tranxuananthitap9.blogspot.com/
http://tacphamtranxuanangiaodiem.blogspot.com/
http://tranxuananngoitruongthgieng.blogspot.com/
http://tranxuanansendobthhbinh.blogspot.com/
http://tranxuanantthitap4.blogspot.com/
http://tranxuananthitap3.blogspot.com/
http://tranxuananthitap6.blogspot.com/

http://tranxuanantthitap9.blogspot.com/
http://tranxuananthitap2.blogspot.com/
http://tranxuanantruongcatho7.blogspot.com/
http://tranxuananthitap5.blogspot.com/

http://tranxuanantthitap1.blogspot.com/

http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/
http://tranxuanantieuluan9b.blogspot.com/

http://tranxuanancmnlamaixanh.blogspot.com/
http://tranxuanancmnlamaix2.blogspot.com/

http://tranxuananbinhtho.blogspot.com/

http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2c.blogspot.com/

http://tranxuananpcdtnvt3a.blogspot.com/

HOẶC CÓ THỂ BẤM VÀO DÒNG CHỮ
WIEW MY COMPLETE PROFILE
Ở BẢNG ABOUT ME
[ có thể xem như trang chủ { # homepage # } ] –
http://www.blogger.com/profile/14904482
– ĐỂ TỪ CÁC ĐƯỜNG LINKs TẠI ĐÓ,
ĐỌC NHỮNG TÁC PHẨM KHÁC CỦA TÁC GIẢ
TRÊN WEBs / BLOGGER.

NGOÀI RA, CÓ THỂ TRUY CẬP THÊM
CÁC TÁC PHẨM SÁNG TÁC, KHẢO LUẬN, BIÊN SOẠN
CỦA TÁC GIẢ
TRÊN TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ GIAO ĐIỂM
(xin bấm vào các đường LINKs sau đây):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/705_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/805_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1005_index.htm
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_index.htm

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_txa-ky-content.htm


Trân trọng và cảm ơn.
Tác giả,
Trần Xuân An


Hết tệp 6
(phân đoạn 6)
- trọn truyện kí 9.

Xin xem tiếp tệp 7
(phân đoạn 1, truyện kí 10)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”,
blog B :
http://tranxuananpcdtnvt3b.blogspot.com/

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A 5)

Tệp 5 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 5 TRUYỆN KÍ THỨ 9)


TRẦN XUÂN AN

BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI


Truyện kí thứ chín
(phân đoạn 5)

18

Ở Huế, các đồn Lộ Châu, Triều Sơn trên tuyến phòng thủ cửa Thuận – sông Hương được tăng cường thêm năm trăm (500) biền binh (188). Lính trạm các cung đường từ kinh ra Bắc Kì đều được phụ cấp thêm tiền gạo để phục vụ quân bưu một cách có năng suất, hiệu quả hơn trong tình trạng khẩn cấp (189).
Viện – Bạc, lúc này gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, và vẫn còn có cả Trần Tiễn Thành, mặc dù quan họ Trần vốn chủ “hoà” này đang ốm vì bệnh và vì bị triều thần chỉ trích. Viện – Bạc tâu xin ra lệnh dụ cho kinh lược sứ Nguyễn Chính (Chánh) lập tức thông tư, bàn bạc việc quân với thống đốc Hoàng Tá Viêm để tuỳ cơ đánh chiếm lại thành Nam Định, “nghiêm sức cho thân sĩ các phủ huyện đoàn kết xã dân, canh giữ để cho chúng [:Pháp] chỉ giữ [được] tỉnh thành, không được lấn xuống, mới có thể tính dần được” (190) .
Mặc dù đang bệnh, vua Tự Đức bảo rằng: “Từ trước đến nay thân sĩ đã xin đoàn kết để ứng cứu, bảo vệ. Sao lúc ấy không tính ngay, cho chúng có thì giờ được voi đòi tiên, lan tràn khó tính, sĩ khí ngày càng tiêu tan hết? Nguyễn Chính đã cho chọn đất đóng quân để làm thanh thế cho quan tỉnh, nay cũng không được công trạng gì, phải giáng bốn cấp, lưu [nhiệm], phải lấy lại ngay tỉnh thành, để chuộc tội trước” (190) .
Khác với Bắc Kì “tả đạo”, “phù Lê” trước đây, ở thời điểm này, tinh thần đoàn kết dân tộc và yêu nước truyền thống đã được khơi dậy mạnh mẽ.
Năm trăm (500) quân kinh đô lại được lệnh hành quân ra Thanh Hoá, và đồng thời tỉnh ấy mộ thêm thổ dũng (lực lượng dân quân), tái nhập ngũ lính mộ cũ, khoảng sáu trăm rưỡi (650) viên (191). Nguyễn Chính cũng phái thêm vào Thanh Hoá ba trăm viên lính, đóng tại Tam Điệp, Nhân Sơn, Chính Đại (192). Tạ Hiện nghe thành Nam Định mất, liền xin về chiêu mộ thổ dũng để quyết đánh, chiếm lại, với chức vụ đề đốc (193), thay liệt sĩ Lê Văn Điếm.
Vẫn đang là tháng hai Nam lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quý mùi (1883)! Toàn thể các quân thứ và đa số nhân dân Bắc Kì đã quyết chiến để rửa nhục.
Cuối trung tuần tháng này, quân Pháp vượt sang sông Hồng, sấn vào chỗ đóng quân của ta ở Gia Lâm (194). Chúng thách thức, khiêu chiến. Hôm ấy, đúng ngày mười chín (27.03.1883), với tinh thần bừng bừng quyết chiến, tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản liền điều động, đốc thúc quân binh đến ngay tại Gia Lâm để trợ lực, kinh lược phó sứ Bùi Ân Niên cũng đem quân tiếp đến. Cả ba đội quân nổ súng, vung gươm với quyết tâm chiến thắng.
Quân Pháp phải rút lui trong hoảng loạn. Chúng quay về giữ Dốc Gạch, đem theo xác một tên quan ba, bốn tên lính Pháp tử thương, cùng sáu tên khác bị thương. Quân ta, sáu người không tránh khỏi bị thương tích (194).
Hôm sau, sáng ngày hai mươi (28.03.1883), với quân số được tăng viện, Pháp lại đến tấn công. Binh dõng, quân thứ Bắc Ninh quyết giữ những chỗ hiểm yếu, nấp bắn. Không thể tấn công nổi, quân Pháp lại rút. Trận này, phía Pháp chết chín tên, một tên khác bị thương. Quân ta cũng bị tổn thất: bị thương mười người lính, chết năm viên (194).
Chiều hôm ấy, độ giờ mùi (13 – 15 giờ), quân Pháp tiến thẳng lên đê sông Hồng, bắn loạn xạ. Binh dõng của ta liền đánh giáp lá cà. Trận đánh bằng võ thuật và dao ngắn rất dữ dội. Số bị thương và chết tương đương nhau, mỗi bên khoảng hai, ba chục người. Về sĩ quan, Pháp có một viên quan hai phải bị băng bó vết thương do dao ngắn và các thế võ. Phó đề đốc Trần Xuân Soạn cũng bị thương nhẹ. Trong trận ấy, không những đạo quân của Trương Quang Đản và tán lí Lương Quy Chính, đạo quân của Bùi Ân Niên tức tốc đến ứng cứu, các đạo quân khác của thương biện Nguyễn Cao, lãnh binh quan Hồ Văn Phấn cũng liền tiếp viện. Quân Pháp chống đỡ không nổi, liền hãi hùng rút quân xuống tàu binh, chạy về Đồn thuỷ Hà Nội (194).
Tin chiến thắng tại Bắc Ninh đã truyền nhanh một niềm phấn khởi khắp cả nước. Ở kinh đô Huế, những tập tâu báo tiệp bay vào làm nức lòng vua Tự Đức, hai đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng phần lớn đình thần và nhân dân.
Ngôi nhà vuông mới xây dựng xong, phía sau, bên trái Tả vu Điện Cần chánh, nơi chỉ có tứ trụ đại thần đến bàn luận việc cơ mật, và vài tham biện, tư vụ được tin cẩn, túc trực để phụ giúp, ghi chép, ngoài ra không một ai khác được ghé vào, kể cả những vị quan trợ lí hành chính thuộc Viện – Bạc. Sáng sớm hôm sau, tại đó, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường và thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đang đọc lại những bản tâu trình về ba trận thắng tại Gia Lâm, Dốc Gạch, triền đê sông Hồng thuộc tỉnh Bắc Ninh.
- Đúng như tin quân thám báo, quyền tuần vũ Hà Nội Vũ Nhự cho biết, bọn Pháp sẽ tấn công Bắc Ninh để chặn chân các quân thứ và quân binh tỉnh ấy cứu viện Nam Định, tập kích Đồn thuỷ. – Quan Bộ Binh nói –. Lẽ ra theo kế hoạch, khi bọn rợ Pháp tấn công thành Nam Định, Nguyễn Chính tiếp viện, phối hợp đánh ngay, và ngay lúc đó, quân tại Bắc Ninh sẽ tập kích hậu cứ Đồn thủy (rợ Pháp đã rút phần lớn quân đi đánh Nam Định). Nhưng bọn Pháp cũng ranh ma lắm. Một số quân của chúng từ Nam Định, sau khi chiếm được thành liền tức tốc quay về phối hợp với quân tại hậu cứ Đồn thuỷ để đánh cản quân ta tại Bắc Ninh.
- Ta kém chúng ở tốc độ hành quân! Cái nhược điểm của ta là ở chỗ hành quân bằng phương tiện ghe thuyền quá thô sơ, quân kị binh lại quá ít. – Quan Bộ Hộ phân tích –. Nhưng dẫu sao quân tỉnh Bắc Ninh và các quân thứ khác tại đó cũng ba lần đẩy lùi được giặc Pháp. Đó là ba lần chiến thắng rõ rệt. Bọn Pháp phải tháo chạy. Tôi nghĩ Bộ Binh cần khắc phục về nhược điểm hành quân chậm.
- Đúng vậy, quyết chiến, không thể không khắc phục nhược điểm ấy, và cả nhược điểm về vũ khí nữa. Về vũ khí, năm kia (Tân tị, 1881), Hoàng Tá Viêm đã sai Lưu Vĩnh Phúc sang Vân Nam mua một số súng đạn Âu Mỹ khá nhiều, lại từ tháng mười một năm ngoái (Nhâm ngọ, 1882), vua đã chuẩn cho “sai quan tỉnh Lạng Sơn gửi sang Hương Cảng hỏi mua hai trăm (200) cây súng Tây [dương], hai hòm viên đạn (giá hơn bốn trăm mười bốn [414] lạng bạc) để phòng dùng cho việc quân tỉnh ấy” (195) , trong đó có cung cấp cho các quân thứ Cao Bằng, Lạng Sơn của Lương Quy Chính, Nguyễn Cao, Trần Xuân Soạn…
- Còn nguyên nhân thắng lợi khác?
- Đó là có sự yểm trợ của quân Thanh, mặc dù quân Thanh chỉ kéo ra áp sát biên giới, mới đưa một số doanh sang Quán Ty (Hưng Hoá), sang các tỉnh miền núi tả ngạn, hữu ngạn sông Hồng, và chưa nhúc nhích, động binh lần nào.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường gật đầu, lại nêu câu hỏi cho rõ vấn đề hơn:
- Dẫu vậy, ý quan Bộ Binh nói, cũng giúp quân ta tự tin hơn chăng?
- Không nên ỷ lại vào quân Thanh, nhưng yếu tố tự tin tăng cao hơn là vì có quân Thanh hậu bị, không thể phủ nhận được. – Thượng thư Tôn Thất Thuyết trả lời –. Không những tinh thần của các quan quân ở các tỉnh Bắc Kì phấn chấn lên, mà nhà vua, các quan tại triều cũng có chung sự phấn chấn đó (mặc dù xen lẫn chút âu lo). Tôi thấy rõ việc liên minh quân sự với nhà Thanh là một thắng lợi ngoại giao của quan Bộ Hộ và của vua tôi triều đình ta.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười. Ông nói:
- Quan Bộ Binh quá khen! Thật ra, ngoại giao và quân sự không thể tách lìa nhau, và một khi phối hợp ăn khớp, sẽ nhân lên sức mạnh cho nhau. Từ khi tôi trực tiếp thành lập Cục Thuyền chính, liên minh quân sự, chính trị, ngoại giao với nhà Thanh qua liên hệ hợp đồng với Đường Đình Canh của Chiêu Thương cục, bằng vỏ bọc vận tải ấy (nhằm qua mắt bọn Pháp, các cố đạo), tôi đã thấy tình thế đã buộc triều đình chúng ta bước vào tình huống “cưỡi lưng cọp” rồi. Thế cưỡi hổ đã thành! Khả năng tốt nhất dự kiến xảy ra là lập được thế ngoại giao đối trọng: Đại Nam ta trung lập, đứng giữa hai lực mâu thuẫn; ta vẫn vững vì hai lực ấy sẽ phải cân bằng! Hoặc, khả năng gay go sẽ xảy đến: Giữa Đại Nam triều Nguyễn ta và Pháp chỉ còn một phen sống mái mà thôi.
- Tôi biết bọn Pháp vẫn còn sử dụng chiêu bài “phù Lê”. Ở Hà Nội, tên Henry Rivière vẫn nuôi một con đàn bà hậu duệ nhà Lê (196). – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Và việc bọn Pháp lợi dụng giáo dân “tả đạo” vẫn là chiến lược lâu dài của chúng, nhưng chúng biết rút kinh nghiệm, lần này đã khôn khéo giấu mặt.
- Trở lại vấn đề là tinh thần quyết chiến đã lên cao. Ba trận đẩy lùi quân Pháp của Bắc Ninh, mặc dù có người không cho là thắng lợi cơ bản, dẫu sao, cũng là ba trận chiến thắng, tuy ở quy mô nhỏ. Tinh thần quyết chiến và chiến thắng ấy cũng xuất phát từ việc giặc Pháp lần này cố bức bách ta, ta lại liên minh được với quân Thanh.– Thượng thư Nguyễn Văn Tường từ tốn nói –. Tinh thần, ý chí chiến đấu không thể hô hào suông mà dấy lên được trong đầu óc, trong tâm trạng quan quân. Tinh thần, ý chí chiến đấu ấy là truyền thống nghìn đời nhưng phải có cơ sở là thực lực, tức là quyết chiến trên sức mạnh có thật. Vấn đề là Viện – Bạc chúng ta suy sâu nghĩ xa để kiến nghị lên nhà vua, làm sao cho vua tôi chúng ta thật sự “thiết thạch đồng tâm”, quyết một lòng vững bền như sắt đá. Ít ra, nhờ vậy, cũng buộc bọn Pháp phải tuân thủ “hoà” ước Giáp tuất 1874, không thể được voi đòi tiên, được đằng chân lân đằng đầu. Trước mắt, tôi nói mục tiêu trước mắt, ít ra là như vậy. Còn hiện nay, vẫn chưa thể tính đến việc khôi phục lại toàn bộ giang san từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau được. Phải buộc cho bằng được bọn Pháp tuân thủ “hoà” ước Giáp tuất 1874! Tôi lần này, ngoài các điều khoản khác, sẽ quyết buộc chúng phải thi hành điều khoản thứ mười (X) ở Nam Kì: Ta được mở trường dạy quốc học trong ấy…
- Tôi đang nghĩ đến những trận chiến thắng quân sự tiếp theo phải đạt cho được tại Bắc Kì. – Quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nói –.
- Đúng như vậy.
Hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc cùng hội bàn kế hoạch quyết chiến trong những trận đánh sắp tới.
Vua Tự Đức dẫu đang ốm nặng với ung nhọt phía sau lưng (197) cũng không yên lòng buông lơi công việc. Nhà vua châu phê vào tập tâu của tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản và phó kinh lược sứ Bắc Kì Bùi Ân Niên: “Quan quân, binh dõng bị chết, đều cho thăng hàm, cấp tiền tuất và cho nhiêu ấm [con cháu được hưởng quyền lợi học tập, thăng bổ hoặc ban tặng chức sắc (thực quyền hoặc chỉ là danh xưng)]. Quan quân thứ, quan tỉnh các ngươi nên cố gắng nhiều hơn, một lòng, hết sức, giết bọn giặc, bắt tướng giặc, cốt cho nước ta được yên mà oai nước được mạnh” (198); “nên cố gắng hơn lên, đốc sức binh dũng, cốt phải đại thắng, cho chúng sợ không dám hành động” (199) ; các tỉnh khác, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, phải đóng cọc ở lòng sông, đánh đắm thuyền chở đầy đá để chặn tàu giặc Pháp tiến công (199); “một đạo Sơn Tây cũng nên hợp sức cố đánh, bày mưu đánh cho được, cốt chóng thành công cho đỡ lo nghĩ ngày đêm” (199); “Ninh Bình là chỗ cổ họng, quan hệ không phải là ít. Bọn Phan Đình Bình, các ngươi khéo dùng thổ dũng, dân binh, hết lòng phòng bị trước cho mười phần vững chắc…” (199); “còn ngoài ra, ai có mưu kế hay, [luyện] binh tinh nhuệ, đánh tất thắng, giữ thành tất vững, đều cho các quan quân thứ, quan tỉnh hết lòng mà làm…” (199) .
Như vậy, lệnh dụ quyết chiến đã được ban hành!
Quyết chiến!
Không còn cách nào khác!
Đó là con đường hào hùng nhất.

19

Tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quý mùi (1883), việc tăng cường phòng thủ, chấn chỉnh binh lực càng được đẩy mạnh.
Súng lớn được bố trí thêm ở phía đông bắc kinh thành Huế. Quân biền binh vốn được điều động làm việc ở các sở thợ (công binh xưởng) đều được rút về để huấn luyện. Quân số ấy hơn một ngàn rưỡi (1.500) người (200).
Tại Quảng Trị, thân sĩ hăng hái mật tâu công việc chống đánh giặc Pháp (201). Triều đình phải theo sắc dụ bảo rằng, không nên hấp tấp.
Lại bố trí thêm hai mươi (20) cỗ súng đại bác, ba mươi (30) cỗ súng quá sơn ở đồn trước và đồn sau Lộ Châu (cửa Thuận An) (202).
Ở Bắc Kì, hai đại thần với quyền lực cao nhất là Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính. Trước đây, sau khi Pháp thực thi mưu kế liền đánh chiếm Hà Nội, liền trao trả để làm sức ép hoãn binh, buộc ta thôi phòng thủ, Hoàng Tá Viêm là người đầu tiên và duy nhất dám cãi lệnh vua, khi nhà vua ban sắc dụ rút quân về Sơn Tây. Lần ấy, ông tâu về kinh: “Vạn phần đánh được cả!” (203) , ngầm trách lại vua và đình thần chủ “hoà”. Cũng lần ấy, thái tử thái bảo, kinh lược sứ Bắc Kì Nguyễn Chính cũng tâu về kinh: “Khiến cho giặc không dám trông thẳng!” (203). Nhưng trong thực tế chiến đấu, Nguyễn Chính đã hèn nhát! Nay, Nguyễn Chính không còn được giữ cờ tiết mao, đã bị giáng xuống hàm tán lí.
Hoàng Tá Viêm, nguyên thống đốc bị giáng xuống hàm tổng đốc, vẫn quyền giữ chức tiết chế thống lãnh toàn mặt trận Bắc Kì, cũng hưởng ứng sắc dụ quyết chiến. Lệnh dụ quyết chiến thật sự như mở cờ trong bụng, ông thật sự phấn khởi, mặc dù nhà vua còn trách cứ ông chậm tiếp viện, ứng cứu. Nguyễn Chính bị trách cứ nặng hơn, nhưng cũng có những biểu hiện hưởng ứng ý chí quyết chiến. Họ hưởng ứng lệnh dụ đã ban: “Bọn ngươi nên tính kĩ, làm [:phòng thủ, chiến đấu] cho thoả đáng, để hả lòng công phẫn, lừng lẫy uy thanh của nước” (203) .
Thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng đã chiêu mộ được ba chục ngàn (30.000) dân quân, trong đó hơn ba ngàn bốn trăm (3.400) người đã được ông chỉ đạo huấn luyện và có kết quả giỏi (204). Tất nhiên, là tướng cầm quân, dạn dày kinh nghiệm, ông hiểu chỉ số người tập luyện giỏi mới chiến đấu tốt, và ngoài ra, lực lượng còn lại chỉ hỗ trợ, như tải thương, vận lương và tự giữ xóm làng. Điều đó, chứng tỏ nhân dân Bắc Kì đã tích cực hưởng ứng quyết lệnh chiến đấu chống Pháp, như truyền thống chống xâm lược nghìn xưa mà trong các bản dụ trước đây nhà vua không quên nhắc đến. Chẳng hạn, trong bản dụ trong tháng mười năm ngoái, Nhâm ngọ (1882): “Đại khái dân khí không yên, vì phong tục không chính, mà tiêm nhiễm đã lâu nên mới đến thế. Không thế, thì người đời xưa dùng để đánh quân Nguyên, quân Minh là dùng dân nào? Năm trước giặc Hải Dương quấy một tỉnh Nam Định, vì dân tốt, quan tốt, được đặc cách khen thưởng là dân nào?…” (205) .
Chỉ có một điều rất đáng tiếc, ấy là sự mâu thuẫn giữa thống đốc Hoàng Tá Viêm và phó kinh lược sứ Bắc Kì Bùi Ân Niên. Bùi Ân Niên những muốn được chuyên trách một đạo quân riêng để phối hợp với quân binh của Trương Quang Đản, vì giữa ông và thống đốc Hoàng Tá Viêm không có sự nhất trí trong việc vạch kế hoạch và tác chiến. Hoàng Tá Viêm mỉa mai, cho rằng Bùi Ân Niên am hiểu việc quân lắm, xin điều động Bùi Ân Niên về triều, giao quân lại cho ông (206). Vua suýt nghe theo lời tâu của thống đốc họ Hoàng! Ngay khi chưa có chỉ dụ triệu hồi Bùi Ân Niên, Hoàng Tá Viêm đã dùng quân lệnh buộc Bùi Ân Niên giao quân! Tham tán họ Bùi liền dâng sớ phản hồi, chê trách Hoàng Tá Viêm: “Giả sử quan thống đốc trước khi Nam Định chưa có việc, tiến ngay đến bức Hà Thành, khiến cho chúng trông chỗ nọ bỏ chỗ kia, không dám bừa bãi ở Nam Định, há không là việc tốt hơn ư? Lại cứ đóng ở Sơn Tây không tiến quân, cho nên chúng có thì giờ tính đánh Nam Định, sự thế thêm khó khăn…” (207). Bản sớ của Bùi Ân Niên còn vạch ra những điều khác, như tâu rằng Hoàng Tá Viêm toan rút quân thứ đóng tại Bắc Ninh lên Sơn Tây, trong khi Bắc Ninh đang bị Pháp quyết tâm đánh, lại chỉ chuyên nghe lời Lưu Vĩnh Phúc. Và cũng trong bản sớ ấy, Bùi Ân Niên còn tố cáo rằng, Hoàng Tá Viêm không nghĩ đến việc chung của Đất nước, sử dụng quyền lực để áp chế người dưới, khiến người dưới không làm được việc gì, lại ganh công với người dưới trong ba trận đẩy lùi quân Pháp tại Gia Lâm nữa (207)!
Viện – Bạc họp bàn, tâu lên vua. Dụ ban ra: “Đạo Sơn Tây binh tướng đã nhiều, mà đạo Bắc Ninh binh tướng hơi ít. [Bùi] Ân Niên cũng chưa thấy có việc gì kém, lại vẫn cho sung chức tham tán cai quản binh dũng đạo quân cũ, cùng với Trương Quang Đản cố gắng làm việc, cho xong việc định làm…” (207) . Và cuối cùng, sau cuộc tâu hặc lẫn nhau, đã được phân tích, để thanh thoả giữa hai người, thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng vẫn được giữ quyền thống lãnh tiết chế như trước, tham tán Bùi Ân Niên vẫn ở cương vị cũ.
Đó là sự mất đoàn kết? Nhưng dẫu sao cũng thể hiện được phần nào tinh thần bình đẳng trong tâu hặc, phản hồi. Quan cấp trên khó lòng áp bức quan cấp dưới trong cơ chế bình đẳng trong tâu hặc, phản hồi ấy.
Cũng tháng ba ấy, bố chính tỉnh Quảng Tây nước Thanh là Từ Diên Húc lại ra cửa quan ải đóng quân để trấn áp (208). Tại Bắc Ninh, thống lãnh quân Thanh Hoàng Quế Lan đến đóng quân ở phủ Lạng Giang, quản đới Trần Đắc Dũng đóng quân ở huyện Yên Dũng, bang đới Diệp Phùng Xuân đóng bên tả ngạn sông Đáp Cầu, thống đốc Vy Hoà Lễ đóng quân ở Hùng Lãm, cùng nhau làm thanh thế ứng cứu. Quan quân thứ tỉnh Bắc Ninh Bùi Ân Niên bàn việc quân với Hoàng Quế Lan. Hoàng Quế Lan bảo: “Chưa tiếp được công văn thượng quốc [nhà Thanh], chưa dám hội lại làm việc”, “nếu chúng [:Pháp] có theo sông Nguyệt Đức đến, sẽ phái quân doanh đổi áo quần đánh giúp” . Chả là quân Thanh còn chờ kết quả cuộc đàm phán giữa Trung Hoa nhà Thanh với chính phủ Pháp!
Triều đình, nhất là hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã biết rõ tình hình ấy. Nhà vua cũng cùng triều thần và Viện – Bạc đi đến kết luận tạm thời: “Nước Thanh đã lo ngại sinh ra hiềm khích [với nước Pháp]… […] … Rút cục, việc ta, ta phải làm là chính. Vậy cho các ngươi, quan quân thứ, quan tỉnh khuyến khích tướng biền phải tự gắng sức, cho hết đạo bầy tôi, mà làm cho thế nước mạnh mẽ, chớ có chỉ trông cậy vào người… […] … [Tuy vậy, cứ] tuyên ngôn quân nước Thanh đến giúp cho nổi thanh thế” (209) .
Hai đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đã nắm rõ tình hình ở Thiên Tân và phái bộ Phạm Thận Duật cũng như sứ thần Nguyễn [Thượng] Phiên ở Quảng Đông (Trung Hoa). Người nắm rõ vấn đề nhất, đó là thượng thư Nguyễn Văn Tường, vì ông chuyên trách mũi nhọn ngoại giao này.
“… Tháng hai [năm Quý mùi, 1883, trước thời điểm này một tháng]… bọn [Phạm] Thận Duật đến Thiên Tân thì nước Pháp đã có thư đến, nói không chịu điều đình, và vin lấy cớ hoà ước năm Giáp tuất [1874] có câu: “Nước Đại Nam có quyền tự chủ, không phải theo phục nước nào”, [để] không cho nước Thanh nhận nước ta làm thuộc quốc. [Pháp] lại rút sứ [thần] Bảo Hải [:Bourée] về, mà cho Lý Đức Cố [:Tricou] sang thay…” (210) .
Hướng vận động ngoại giao đối trọng ấy đang ở mức chưa thành công. Đại thần nhà Thanh Lý Hồng Chương vẫn tiếp tục thương thuyết cùng sứ thần mới của nước Pháp, ấy là viên quan văn Tricou.
Bởi thế, lực lượng quân Thanh do Hoàng Quế Lan thống lãnh tuy đã sang nước ta từ tháng chín nguyệt lịch năm ngoái (Nhâm ngọ, 1882) đến nay, vẫn chưa động tĩnh gì! Thượng thư Nguyễn Văn Tường hết sức lo ngại, nhất là trong lúc đó, Pháp càng có khuynh hướng chuyển quân thêm vào Bắc Kì. Thượng thư Tôn Thất Thuyết cũng cùng chung ý nghĩ lo ngại ấy.

20

Tình hình bên ngoài nước và trên mặt trận là thế, tình hình nội bộ cũng không phải không phức tạp, đau lòng.
Tháng ba nguyệt lịch Quý mùi (1883), nhà vua vẫn chưa có dấu hiệu khỏi bệnh. Hồng Sâm đã được phái sang Trung Hoa để tìm rước thầy thuốc giỏi, bởi các ngự y cũng như các lương y trong nước ta đều đã bó tay! Đại thần quản lí sự vụ Bộ Binh Trần Tiễn Thành từ đầu năm Quý mùi (1883) đến nay cũng đã mấy lần cáo ốm, nằm chữa bệnh ở công thự riêng trong khuôn viên Bộ Binh. Việc Trần Tiễn Thành bị chê trách rất nhiều là một trong những nguyên nhân khiến ông ta cáo ốm, ngoài căn bệnh lị, một bệnh mạn tính, kinh niên về đường ruột.
“Năm thứ ba mươi sáu (1883), [Trần] Tiễn Thành vì già ốm tâu nói: “Bệnh tình của thần liên miên ngày tháng, xin trả hạn để chữa thuốc đã đến hai, ba lần, gần đây lại phát, tăng giảm không thường, liệu không phải hàng tuần đã khỏi… […] … Vả công thự không phải là nơi dưỡng bệnh, nằm lâu sợ người ta nói. Nếu tạm về nhà, thời xa cách việc cơ mật, lòng rất không yên, đương lúc sự cớ ấy vẫn thấy nhà vua quên ăn trễ ngủ. Thần, tấm thân dẫu mắc bệnh, bụng thường lo giấu, còn một hơi thở cũng không dám chút trễ nãi… […] … Chỉ vì thần đã tới niên lệ, vừa gặp việc cơ mật bề bộn, chưa dám viện lệ xin [về nghỉ hưu], thời kẻ chê [là] người luyến sạn (sách Tấn thư: ngựa hèn còn luyến hột đậu ở chuồng) có ngại cho người hiền; lại nhân vừa nghỉ bệnh, thời người cho là thấy [thời thế] khó, thoái thác cáo ốm. Chúng khẩu [:miệng lắm người] còn nóng hổi chồng chất bời bời những lời chê bai. Thần đương ốm trong tâm rất là đau khổ… […] … Tâm của thần, bệnh của thần bậc đại thần ở triều đều biết rõ đã lâu. Thần lòng lại hỏi lòng, duy có mặc [kệ] họ, mình chỉ một niềm thôi… […] …” (211) .
Vua Tự Đức đã châu phê vào tờ sớ:
“Bệnh của khanh là lão bệnh. Ta đã hỏi thầy thuốc, họ nói: “không ngại”. Vậy cứ yên tâm ở thự, đợi khỏi, vào chầu nghe việc cơ mật, bất tất phải nghỉ hạn ở ngoài, xa cách bất tiện” (211) .
Đối với thượng thư Nguyễn Văn Tường, sau Vũ Trọng Bình, chính Trần Tiễn Thành là người không phải không có ân nghĩa với ông.
“Năm thứ hai mươi sáu (1873), Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình kế tiếp nhau thất thủ. Khi Nguyễn Văn Tường tới Hà Nội giảng giải thu về bốn tỉnh, vua cho Văn Tường là do Trần Tiễn Thành đề cử lên mới được biết, xuống dụ rằng: “[Nguyễn] Văn Tường cùng với trẫm được tri ngộ, dẫu do từ khi làm huyện lệnh ở Thành Hoá mà mới biết tiếng thôi, nhưng phần nhiều do Trần Tiễn Thành cử ra, nhân đó mới dần tiến lên. Nếu cho là vô tri, theo lệ sống lâu nên lão, thời truy nguyên ra, việc thưởng nên thôi ư! Vậy thưởng [từ] thụ hiệp biện, [được thăng] tiến thự Văn minh điện đại học sĩ, còn hàm vẫn như cũ. Đó là [do] biết tiến [cử] người hiền nên được thượng thưởng”. Khi vào triều kiến thường được ưu lễ, gọi là Trần khanh mà không gọi tên” (212) .
Nhưng thật sự chính kiến hai người vẫn khác nhau xa, và càng lúc càng khác. Trần Tiễn Thành chỉ chuyên một đường lối chủ “hoà”, dần dần buông xuôi, những năm về sau này, lại gần như đầu hàng, thoả hiệp. Nguyễn Văn Tường chỉ xem hoà là cơ nghi và hoà phải đi đôi với thủ để cuối cùng phải chiến.
Quả thật như thế, trong những năm về sau gần đây, tình hình không thể “hoà” được nữa, nhưng Trần Tiễn Thành vẫn cứ “hoà”! Mâu thuẫn nẩy sinh trong tâm trạng đại thần Viện – Bạc Nguyễn Văn Tường là một bên, việc hệ trọng mất còn của Đất nước, và một bên khác, ấy là ân nghĩa tiến cử cũ (mặc dù Trần Tiễn Thành tự nguyện tiến cử theo lệnh dụ của vua, theo phương châm “tiến cử người hiền, sẽ được thưởng hậu; che giấu người hiền, sẽ bị giết”) ! Vận mệnh Tổ quốc và chút ân nghĩa tiến cử cũ: Bên nào nặng? Bên nào nhẹ? Đó là chưa đặt lên bàn cân việc Trần Tiễn Thành lại nhận sự tác động bởi De Champeaux để đẩy Nguyễn Văn Tường khỏi Nha Thương bạc…
Triều thần, thời điểm lịch sử này, không ngớt chỉ trích đường lối chủ “hoà” của Trần Tiễn Thành, nhất là quá trình hơn mười năm đứng đầu Bộ Binh của một Đất nước đang chống ngoại xâm, ông ta lại để quân binh trì trệ, vũ khí lạc hậu, đến nỗi vua cũng nhiều lần trách cứ! Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết luôn chỉ trích Trần Tiễn Thành: Với quyền lực nắm trong tay, ở vị trí đại thần số một, chỉ dưới mỗi một mình vua, lại được vua Tự Đức quá tin cậy đến mức khó hiểu, Trần Tiễn Thành muốn khuynh loát tất cả, nhưng ông ta lại để tình trạng Bộ Binh như thế là không thể tha thứ được! Nếu không có thượng thư Bộ Hộ sung đại thần Viện – Bạc, một người có uy tín và ảnh hưởng nhất trong triều thần, thì tình trạng Bộ Binh còn suy bại đến mức nào! Ý kiến ở Viện – Bạc, ở các cuộc đình nghị là ý kiến chung về lãnh đạo, về chủ trương, chính sách, về cách giải quyết các trường hợp cụ thể khó giải quyết ở cấp tỉnh, huyện, nhưng trực tiếp nắm giữ, thực thi, đốc suất công việc Bộ Binh, Trần Tiễn Thành không thể đổ lỗi cho ai khác!
Rõ ràng không thể không nẩy sinh mâu thuẫn, và mâu thuẫn không thể không bị tình thế đẩy đến đỉnh điểm của nó! Biết làm thế nào được! Không có một tình huống nào thật sự hoàn toàn thuận lợi, nữa là ở thời đoạn lịch sử bi tráng này!

21

Tháng ba nguyệt lịch năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quý mùi (1883), tình thế lại im ắng trong căng thẳng, cường độ căng thẳng mỗi lúc mỗi tăng lên. Nắng mùa hè vẫn sôi bỏng trong không khí.
Viện – Bạc và nhà vua không thể không dùng một từ xem ra còn nhẹ nhàng, nếu so với từ “phản quốc” đích đáng, để giành cho nhân cách, tâm địa của linh mục xứ Phát Diệm, Ninh Bình Trần Lục (213), hay thường gọi là cha Sáu, cụ Sáu. Y là một cốc nước bẩn nhưng vẫn phần nào vẫn còn là nước. Lần này, y rặt là phản quốc. Linh mục Trần Lục ấy đệ thư đến quan tỉnh Thanh Hoá, xin theo ý phái viên Pháp bãi bỏ tuần ti ở cửa tuần Chính Đại! Chả là trong thời gian Pháp bộc lộ dã tâm xâm lược Bắc Kì lần thứ hai, và tên Nguyễn Hữu Độ tấu trình theo ý Pháp bằng giọng lưỡi quan tâm đến việc nước một cách giả dối, do đó triều đình ít nhiều nhân nhượng cho triệt bỏ một số tuần ti trong phạm vi Bắc Kì. Pháp vốn muốn những tuần ti của ta không còn tồn tại để chúng tha hồ thao túng về thương mại và tự tiện thu thuế thương chính. Nay Trần Lục lại muốn lấn sang Trung Kì cho thực dân Pháp. Lệnh dụ vạch mặt linh mục Trần Lục phải ban ra: “Tỉnh Thanh Hoá không thuộc về Bắc Kì, đấy là Trần Lục nịnh hót mà chỉ [bày cho Pháp]. [Trẫm] sai [Phan] Đình Bình bắt Trần Lục nói với phái viên nước Pháp phải thôi” (213) .
Sự kiện vẫn còn gây xáo động tình hình Bắc Kì trong thời điểm căng thẳng này, đó là việc quân Thanh đưa ”quân sang nhưng không động tĩnh”. “[Đường] Cảnh Tùng tháng chạp năm ngoái, tự kinh [đô] về Hải Phòng, lại đi [đường] bộ đến các tỉnh Bắc Kì, tra xét tình hình biên giới, đến nay cáo từ về nước” (214) . Theo lời tâu của thống đốc Hoàng Tá Viêm, khi với y “cùng nhau bàn luận, thấy có nghĩa phẫn lắm, bàn việc quân rất là có lí, lại thêm Lưu Vĩnh Phúc là người cùng làng với viên ấy, rất là kính trọng. Nếu được viên ấy ở lại đấy, tự khắc mọi việc làm chóng xong” . Về “sau triều đình nước Thanh chuẩn y cho” Đường Cảnh Tùng phụ giúp cho Hoàng Tá Viêm (214). Nhưng thật tâm, Viện – Bạc và nhà vua không tin cậy vào tình hữu nghị trong sáng, “nghĩa phẫn” của họ Đường, cũng như Từ Diên Húc, vì hành tung của họ trên nước ta, mặc dù cũng chưa thấy có biểu hiện gì là lộng hành, xâm lược. Có người bấy giờ đã nói: Chính tiến sĩ Đường Cảnh Tùng đã bí mật bàn với Lưu Vĩnh Phúc, khuyên tướng Cờ Đen họ Lưu nên nhân cơ hội Đại Nam suy trầm này mà ám sát Hoàng Tá Viêm, khởi binh, và lên ngôi An Nam quốc vương! Lưu khẳng khái từ chối đề nghị của Đường Cảnh Tùng (215)! Đấy là sự thật hay kế li gián? Không rõ! Kinh nghiệm lịch sử mấy nghìn năm nay cho thấy đã nhiều lần quân liên minh cứu viện bỗng lộ mặt xâm lược. Tuy nhiên, lần này chưa rõ. Triều đình Đại Nam ta chưa biết đến tập sớ của tổng đốc Quảng Đông Trương Thụ Thanh đệ trình lên vua Quang Tự nhà Thanh hồi tháng bảy nguyệt lịch Nhâm ngọ (1882) (140)! Cũng như hai thượng thư Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, các quan quân thứ, quan tỉnh Bắc Kì đều nghĩ: Giá như triều đình nhà Thanh cho ta mượn quân có trang bị, tiếp viện súng đạn (họ trao hết cho Hoàng Tá Viêm, cho các tướng Đại Nam ta chỉ huy số quân Thanh đó, với quân luật triều Thanh), thì hiệu quả hơn, và ta yên tâm biết mấy! Nghĩ là nghĩ vậy, ai cũng biết đây là một thế trận buộc phải chấp nhận vận dụng vào thực tế, một khi đã gần như bế tắc. Nếu bị tình thế đẩy đến cùng, ta sẽ chủ động cho thế trận liên minh, đối trọng ấy trở thành “toạ sơn quan song hổ đấu” !…
Trong khi đó, kho gạo ở kinh đô chưa thật thừa thãi để dự bị chiến tranh, nên Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn Tường đành xin cấp tiền thay vì tiêu chuẩn gạo lương cho quan chức, hoàng thân, tôn thất (216).
Tháng tư Quý mùi (1883) lại đến.
Ở kinh đô Huế, “Nha Hải phòng kinh kì tâu xin cắm liền hàng rào bằng gỗ và lấp bằng sọt đá ở cửa hàng rào Lộ Châu” (217) để đề phòng Pháp tấn công vào trung tâm thần kinh của Đất nước.
Ở Bắc Kì, hai tên tướng phỉ, Phạm Văn Khoả và Nguyễn Văn Câu, người huyện Đông Anh, tỉnh Bắc Ninh bị sa lưới. Với tội phản quốc, câu kết bè lũ, tự xưng ngũ quân đại nguyên soái, điệu bát, lại cướp của, dán bích chương ở các xã thôn, tống tiền và đòi nộp thuốc súng, đạn dược trước đây, nay chúng bị bắt được, không thể tránh khỏi tử hình (218). Đó là bọn phỉ quấy rối, nổi loạn thật sự, không hề đụng đến một chiếc lông chân của bọn Pháp viễn chinh, cố đạo thực dân mà chỉ cướp bóc nhân dân, và nhắm đánh vào quan quân triều đình. Cùng với chiến công dẹp phỉ ấy của tỉnh Bắc Ninh, một tướng phỉ Tàu khác, tên là Dương Đại Gia Hoả, bị quân Thanh bắn rớt từ sườn núi xuống vực (219).
Công việc dẹp phỉ vẫn còn phải tốn ít nhiều tâm sức nhưng không nghiêm trọng như những năm giặc Cờ, thổ phỉ tràn lan về trước. Thống đốc Hoàng Tá Viêm dâng sớ xin khoan hồng cho tù phạm Hưng Hoá để giúp chúng cải tà quy chính, sử dụng họ vào việc tiễu phỉ. Vua Tự Đức dẫu đang bệnh, vẫn châu phê: “Quân cảm tử, phần nhiều ở trong tù phạm. [Hãy] chọn lấy kẻ dũng cảm. [Vấn đề] chỉ ở tướng khéo khuyên dùng mà thôi” (220) .
Bắc Kì, cái nôi sinh tụ đầu tiên của dân tộc ta, nơi mỗi tấc đất đều ghi những chiến công chống ngoại xâm oanh liệt! Chính những người dân Nam Đàng Ngoài, Bắc Đàng Trong cũng mang dòng máu quật cường ấy tiến vào mở đất vào phương nam. Thế mà, sau hai trăm năm chia cắt thời Trịnh – Nguyễn, và kể xa hơn, sau mấy trăm năm, nói như vua Tự Đức, là “vì phong tục không chính, mà tiêm nhiễm đã lâu nên mới đến thế. Không thế, thì người đời xưa dùng để đánh quân Nguyên, quân Minh là dùng dân nào?” (205). Tiêm nhiễm phong tục nào vậy? Hãy hỏi linh mục Trần Lục và những tên tướng phỉ như Tạ Văn Phụng, Hồ Văn Vạn, những Tịch, Trận, Khoả, Câu và những tên giặc Cờ, giặc trốn nước Thanh, thuỷ khấu cướp bóc theo mùa, hải tặc các quốc tịch…
“Tả đạo”, phỉ ta, phỉ Tàu cùng nguy cơ đói kém khá kinh niên, cứ trở đi, trở lại, là những gì tạo nên một phần không khí căng thẳng ở Bắc Kì và cả nước. Nhưng dẫu sao, nguy cơ giặc Pháp mới là trực tiếp và nguy hiểm nhất. Phần lớn nhân dân Bắc Kì đang sục sôi căm uất. Không chỉ ba vạn người dân mà gấp mười lần như thế đang sẵn sàng hỗ trợ quan quân triều đình để quyết chiến với Pháp. Nhưng lạ thay, hẳn do hậu quả hai trăm năm chia cắt và “phong tục” kia chi phối, nên chưa thấy những lực lượng dân quân, hương binh tự khởi phát đánh Pháp, trong thời đoạn sắc dụ đã ban ra: “Quan quân thứ, quan tỉnh các ngươi nên cố gắng nhiều hơn, một lòng, hết sức, giết bọn giặc, bắt tướng giặc, cốt cho nước ta được yên mà oai nước được mạnh”; “nên cố gắng hơn lên, đốc sức binh dũng, cốt phải đại thắng, cho chúng sợ không dám hành động”; “một đạo Sơn Tây cũng nên hợp sức cố đánh, bày mưu đánh cho được, cốt chóng thành công cho đỡ lo nghĩ ngày đêm”; “Ninh Bình là chỗ cổ họng, quan hệ không phải là ít,… […] …, các ngươi khéo dùng thổ dũng, dân binh, hết lòng phòng bị trước cho mười phần vững chắc…”; “còn ngoài ra, ai có mưu kế hay, [luyện] binh tinh nhuệ, đánh tất thắng, giữ thành tất vững, đều cho các quan quân thứ, quan tỉnh hết lòng mà làm…” (199) .
Trong lúc đó, cũng tháng tư Quý mùi (1883), tên nhà văn khá nổi tiếng ở nước Pháp, đang lộ nguyên hình là một tên xâm lược tàn ác và đốn mạt, với chức vụ cai quản lực lượng sư đoàn thuỷ binh viễn chinh Pháp, tên là Vy Ê hay Lý Hoa Lợi (Henry Rivière), “uỷ phái viên đem bán gạo chứa ở Cục Chiêu thương Hải Dương và thu các thuế xuất nhập cảng, thuế thuốc phiện và gạo” (221) ! Bọn thực dân Pháp ở “tàu Pháp kiểm soát, đuổi phái viên [cuả ta], ngồi thu thuế quan Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên” (222) !
Henry Rivière và bọn Pháp viễn chinh ngang ngược đến thế là cùng!

22

Trung tuần tháng tư Nam lịch, Quý mùi (1883), vào lúc sáng sớm ngày mười ba (19.05.1883), Henry Rivière liền bí mật ra lệnh xuất quân sau khi đã bí mật ra lệnh cho hậu cần phân phát khẩu phần có thịt tươi và rượu cho quân viễn chinh Pháp (223). Với thịt tươi và những li rượu nồng độ cao, bọn lính hăng máu hẳn lên. Chúng nai nịt, mang súng đạn cùng sư đoàn trưởng thuỷ quân lục chiến Henry Rivière hành quân thật im lặng về phía phủ Hoài Đức, nơi các quân thứ Sơn Tây và đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc đã kéo về trấn đóng mấy hôm rồi. Henry Rivière rất căm hận thống đốc họ Hoàng và quyết lần này sẽ lấy đầu họ Lưu để trả thù cho Françis Garnier, một tên đại uý nhãi nhép vốn chẳng ra gì, nhưng nhờ sự tuyên truyền, y trở thành anh hùng ở Pháp!
Trong bóng tối chưa hé một tia nắng hừng đông, lượng rượu cồn đổ vào người (hẳn có thêm chất kích động) khiến bọn lính Pháp thấy ngứa ngáy ở ngón tay bóp cò súng. Chúng đang thèm nghe tiếng nổ, thèm thấy máu trào và những thây người ngã xuống, bất kể là dân lành hay lính triều đình Đại Nam.
Henry Rivière không uống rượu, nhưng y căm giận vì những lời nhục mạ, sỉ vả mà những toán quân của Lưu Vĩnh Phúc tạt vào hai chiếc tai của y từ hôm trước. Bấy giờ, y cố bình tĩnh nén giận, không vội kéo quân ra như Françis Garnier. Henry Rivière đã có trong tay một bọn “tả đạo” người bản xứ, vốn được giám mục Puginier bí mật giới thiệu một cách tin cẩn. Y bình tĩnh cho bọn ấy đi do thám tình hình đóng quân của quân ta. Và y vạch kế hoạch đánh úp.
Hôm nay, Henry Rivière tự nhủ, như đã ra quân lệnh hồi khuya, phải tiêu diệt quân Đại Nam khiêu khích đang ngủ vùi ở phủ Hoài Đức.
Khi chưa đến phủ Hoài Đức, mới vừa ra khỏi Cầu Giấy một đoạn, ở phía tây, ngoài cửa ô La Thành, y hoảng hốt khi nghe tiếng hô xung phong phía sau lưng, và từ trong những đám cỏ, sau gốc cây, bờ ruộng hai bên khúc đường mới bước qua, bóng lính dưới quyền chỉ huy của Lưu Vĩnh Phúc ào tới, nổ súng bắn chéo và xông vào đánh giáp lá cà.
Những toán quân gồm sáu trăm (600) tên Pháp cũng phản phục kích một cách có bài bản, chứng tỏ chúng là một đoàn quân đã được huấn luyện kĩ càng và dạn dày chiến trận.
Cánh bên phía trái, quân đoàn luyện của tướng họ Lưu do Dương Trứ Ân chỉ huy. Nhưng tiếc thay, sau khoảng mấy chục phút đầu vùng dậy đánh mãnh liệt, bắn hạ và chém được nhiều tên địch, Dương Trứ Ân bị trúng thương, hi sinh ngay tại trận địa (223). Cánh quân đoàn luyện này vẫn tiếp tục chiến đấu. Giặc ở xa, họ nổ súng. Giặc ở gần hoặc chúng tiến đến gần, họ vung đao, kiếm và dao ngắn.
Cánh quân phía bên phải, do Ngô Phượng Điển chỉ huy. Sau loạt súng phối hợp với cánh quân bên trái, bắn chéo vào giặc Pháp, thấy chúng ngã xuống vì trúng đạn và ngã xuống bò toài trên mặt đất để tránh đạn, rồi chúng nhanh chóng phản phục kích bằng những loạt súng liên thanh, Ngô Phượng Điển lập tức ra hiệu lệnh cho toán quân tiền khu xung kích. Những toán quân còn lại vẫn mai phục, bắn yểm trợ cho toán xung kích kia. Lúc này, mặt trời đã sáng rõ. Ông lại cầm súng ngắn đứng dậy, phất tay cho đợt tấn công thứ hai. Ông khom người chạy bên viên lính thổi kèn thúc quân kiểu Anh. Bỗng Ngô Phượng Điển ôm lấy bắp chân. Máu tứa ra ở các kẽ ngón tay. Ông ngã xuống. Thấy viên chỉ huy họ Ngô đã trúng thương, hai cánh quân, cũng ít nhiều đã bị thương tổn, vội lùi lại cố thủ (223).
Đang nằm trên một nóc nhà ngói quan sát trận địa, Lưu Vĩnh Phúc liền phất tay và nhảy xuống. Đã được mật bàn trước, Hoàng Thủ Trung cũng lập tức ra hiệu lệnh cho đội quân của ông (223).
Hai cánh quân do họ Lưu, họ Hoàng trực tiếp chỉ huy cùng hai ông xông ra giữa trận đạn của giặc Pháp, với các thế bò, toài, đi khom tuỳ theo địa hình, địa vật. Những hào giao thông đã được đào sẵn. Những đụn rơm, gốc cây, ụ đất đã bố trí sẵn. Những luống khoai, vồng sắn cũng được tận dụng. Lưu Vĩnh Phúc đã cùng thống đốc Hoàng Tá Viêm đã nghiên cứu kĩ trận địa mai phục.
Henry Rivière và sáu trăm tên Pháp bỏ chạy tán loạn. Đội kị binh lập tức đuổi theo.
Những tên lính Pháp mắt xanh mũi lõ ngã xuống dưới những phát súng nổ từ đằng sau lưng chúng hay bởi những thanh đại đao, mã tấu chém tới lúc chúng đang bỏ chạy. Henry Rivière đã nhanh tay lột quân hàm đại tá để lẩn vào bọn lính Pháp, nhưng Lưu Vĩnh Phúc đã chú ý đến y từ lâu với một đặc điểm trên người y mà họ Lưu cố nhớ.
Vó ngựa của Lưu Vĩnh Phúc chồm lên con ngựa Henry Rivière đang cỡi. Tiếng ngựa của Henry Rivière hí hãi hùng, bỏ chạy, để cái xác không đầu ngã xuống cách chỗ chiếc đầu tóc râu vàng hoe đã rơi khoảng mươi thước.
Ngỡ như cái chết của Françis Garnier được lặp lại, nhưng xem ra, cái chết đáng đời của Henry Rivière vẫn ngoạn mục hơn.
Ngoài ra, một quan hai, một quan ba Pháp cũng bỏ mạng tại trận cùng hai mươi (20) tên lính Pháp khác, và sáu mươi (60) tên Pháp khác nữa bị trọng thương cùng nhiều tên bị thương nhẹ. Những tên Pháp lem luốc bụi đất, máu me, khói thuốc súng kéo nhau, bồng bế, khiêng vác nhau bỏ chạy một cách thê thảm (223)…
Thống đốc Hoàng Tá Viêm trầm tĩnh cười thật hả dạ khi quan sát từ đầu đến cuối cuộc phục kích lớn. Ông đã quyết tâm thực hiện lệnh dụ “một lòng, hết sức, giết bọn giặc, bắt tướng giặc, cốt cho nước ta được yên mà oai nước được mạnh” ! Và Lưu Vĩnh Phúc vẫn là một dũng tướng, một “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà” . Ông chỉ cãi lệnh dụ là không ra lệnh bắt sống Henry Rivière, mà đã bảo Lưu Vĩnh Phúc phải chém ngay, giữ đầu và xác của hắn làm “con tin”.
Tin báo tiệp bay nhanh tên lưng ngựa trạm để vào kinh đô Huế.
Cả triều đình, thần dân và nhà vua phấn khởi như chưa bao giờ phấn khởi đến thế!
Sắc dụ ban thưởng tức khắc: Liệt sĩ tử trận Dương Trứ Ân được truy phong tuyên uý phó sứ, gia tặng hàm lãnh binh quan; Lưu Vĩnh Phúc thăng thụ đề đốc với áo mão chánh nhị phẩm; Hoàng Thủ Trung thăng thụ tuyên uý sứ với bậc hàm tòng tứ phẩm, lãnh chức lãnh binh quan; Ngô Phượng Điển được thăng chính thức tuyên uý phó sứ lãnh chức phó lãnh binh quan với sâm quế thuốc thang điều trị; và tất cả quân binh, kể cả thống đốc Hoàng Tá Viêm đều được thăng chức, thưởng tiền, hoặc khai phục chức tước bị cách trước đó. Nhưng không có vinh quang nào bằng là họ tự biết chiến công này sẽ mãi mãi được ghi lại trong sử sách, và trước mắt, khiến kẻ thù là giặc Pháp, kể cả bọn thực dân đầu não, chóp bu tận nước Pháp, phải thêm một phen rúng động, hãi hùng và hằn học, thù hận một cách vô lí, vô đạo (223).
Bấy giờ, tại kinh đô Huế, Sứ quán Pháp đã đóng cửa, vắng hoe, im lìm. Lãnh sự Pháp tại Hà Nội đệ thư đến quân thứ Sơn Tây, xin trao trả xác chưởng thuỷ sư Henry Rivière và hai tên quan hai, quan ba Pháp. Tập tâu vào kinh, vua Tự Đức bảo: “Không cho! [Hãy] sai quân thứ Sơn Tây tạm chôn, đợi xét” (223) .

Hết tệp 5 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh
.

TRẦN XUÂN AN


(188) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 177.

(189) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 177.

(190) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 178.

(191) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 178.

(192) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 192.

(193) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 179.

(194) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 180 – 181.

(195) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 159.

(196) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 533.

(197) Y. Tsuboi trích dẫn Bùi Quang Tung, NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 300. Không rõ Bùi Quang Tung căn cứ vào tư liệu nào, và tư liệu ấy có đáng được tin cậy hay không, để viết như thế. Dẫu sao, tôi vẫn xem chi tiết về bệnh và cái chết vua Tự Đức, theo Bùi Quang Tung, như chất liệu tiểu thuyết, có thể sử dụng được ở chừng mức nào đó trong thể truyện kí lịch sử, với chú thích rõ ràng, cẩn trọng (mạn phép xem đây là trường hợp đơn cử).

(198) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 181.

(199) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 181 – 182.

(200) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 182.

(201) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 183.

(202) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 183.

(203) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 182 – 183.

(204) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 184.

(205) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 153 – 154.

(206) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 185.

(207) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 185 – 186.

(208) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 187.

(209) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 187 – 188.

(210) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 161 – 162.

(211) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 169 – 170.

(212) ĐNLT., tập 4, sđd., tr. 167.

(213) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 188.

(214) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 190.

(215) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 402 – 403.

(216) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 189 – 190.

(217) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 192.

(218) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 190.

(219) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 190 – 191.

(220) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 191.

(221) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 191.

(222) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 192.

(223) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 192 – 194. Xem thêm: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 404 – 409.

Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2])
.

TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 5
(phân đoạn 5, truyện kí 9)

Xin xem tiếp tệp 6
(phân đoạn 6, truyện kí 9)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”.

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A 4)

Tệp 4 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 4 TRUYỆN KÍ THỨ 9)

TRẦN XUÂN AN

BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI


Truyện kí thứ chín
(phân đoạn 4)

12

Với sự hỗ trợ của đại thần Viện – Bạc Nguyễn Văn Tường, việc tăng cường phòng thủ vẫn được đẩy mạnh. Thượng thư Tôn Thất Thuyết tâu xin đưa hai mươi (20) cỗ súng về đồn Trấn Hải ở cửa biển Thuận An (Thừa Thiên) (133), đặt sáu cỗ súng ở Tư Hiền (cũng thuộc tỉnh Thừa Thiên) và luyện binh ở vụng biển ấy (133), đồng thời tăng cường các võ quan như Nguyễn Hanh, Lê Viết Diễn, Nguyễn Văn Thi, Ngô Đạt và cả cử nhân văn làm tham biện là Cao Hữu Sung (133). Ngoài ra, khởi công xây dựng Sơn phòng Hà Tĩnh (134). Vua Tự Đức đồng ý.
Tháng bảy Nam lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi lăm, Nhâm ngọ (1882) ấy, trong những ngày đầu tháng, Quảng Trị quê nhà của thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường lại bị thiên tai bão tố (135). Tất nhiên, không hề thiên vị, ông chiểu theo định lệ chẩn cấp để bảo các quan thuộc viên đốc thúc quan tỉnh lập danh sách. Thúc giục đến hai, ba lần mới làm xong danh sách! Các quan tỉnh phải bị cách chức nhưng cho lưu dụng (135)!
Bấy giờ, có những sự lạ! Triều đình phát hiện và trợ cấp cho thần đồng tám tuổi Nguyễn Văn Kỳ ở tỉnh Hưng Yên (về sau Pháp bắt về nước của chúng!) (136). Cùng với sự lạ ấy, biển Bình Thuận bỗng vang lên dưới lòng biển tiếng vang như súng rền, suốt cả ngày đêm, vang đến tận Bắc Kì (137)! Sau đó khoảng một tháng, sao trên trời sa xuống, tiếng thiên thạch va chạm mặt đất vang như sấm động (138), rồi lại xuất hiện sao phướn, một dải sao dài như tấm lụa, phía dưới màu đỏ, phía trên sắc trắng, kéo dài đến bốn tháng trên nền trời đêm (139). Nhân gian bấy giờ vẫn giải thích các hiện tượng tự nhiên theo cách nghĩ thần bí của mình, cố tưởng tượng ra mối liên quan giữa “trời – đất – người” .
Quân Thanh ở Lưỡng Quảng và Vân Nam đã hành quân ra áp sát biên giới, trải dài trên nhiều vùng đất Trung Hoa kề cận nhiều tỉnh nước ta, ngay từ khi nghe tin Hà Nội thất thủ vào đầu tháng ba (140). Đến nay, đúng như ước định của thượng thư Nguyễn Văn Tường và triều đình, tháng bảy, trước khi sao phướn trắng đỏ xuất hiện, tướng nhà Thanh tại Vân Nam, là Tạ Kính Bưu, lại đem trước ba (03) doanh quân sang Quán Ty ở tỉnh Hưng Hoá (140). Dân gian Bắc Kì lan truyền tin đồn: “Người nước Thanh đến tranh lấy Bắc Kì làm kế tự giữ” (140) .
Vua Tự Đức ra dụ: “Lấy lòng tiểu nhân để đo bụng người quân tử! Người nước Thanh đâu có làm việc bất nghĩa như thế” (140) . Thư của tổng đốc Quảng Đông liền được đưa đến cho các quan tỉnh xem để họ trấn an, khuyên bảo nhân dân, “chớ đem lời đồn phi lí mà làm mê hoặc nhau” (140) . Thư ấy được viết:
“Việc quân Pháp xâm chiếm Hà Nội, đã do quan tổng lí các quốc sự vụ là Vương đại thần tâu lên [vua Thanh]. Đại hoàng đế [nhà Thanh] xuống chiếu cho các đốc phủ Vân Nam, Lưỡng Quảng, gia tâm phòng giữ, và cho Vương đại thần đến tận nơi hỏi sứ thần Pháp đóng ở Trung Hoa, bảo: Về nước Việt Nam, trước [là phiên] thuộc Trung Hoa, nay nghe quân Pháp đánh giữ thành [trì] nước Việt; [như vậy là] có hại đến nghĩa giao hiếu của hai nước. Nếu do sứ thần nước Pháp đem nghĩa ấy chuyển [gửi, để] bảo cho Bộ Ngoại giao Pháp, [thì cũng] cốt cho trọn nghĩa bang giao ấy. [Vua Thanh] lại cho Tăng đại thần [Tăng Kỷ Trạch] sang sứ [:đi sứ sang] nước Pháp, giục Bộ Ngoại giao nước Pháp ra lệnh cho quân Pháp ở Việt nam rút ra khỏi thành trì Hà Nội, để giữ vững tình hữu nghị. [Hai việc] đó đều là [bởi] thiên triều [Trung Hoa] yêu mến thuộc quốc [Đại Nam] không lúc nào ngơi. Trừ ra [việc phải] tuỳ thời [mà] đến nước Pháp bàn bạc và đợi nước Pháp trả lời, chước lượng làm việc, [thì] không kể, [nhưng] cũng [thông] tư cho [Đại Nam] biết để tra xét” (140) .
Thượng thư Nguyễn Văn Tường đọc bản thư ấy cùng những lời châu phê của vua Tự Đức: “Quân nước Thanh nếu sang, [họ là khách], ta là chủ, nên tuỳ nghi khoản tiếp, dò xét, cốt cho đắc thể, chớ để mất lòng” (140) .
Tuy nhiên, ông và cả triều thần cũng như vua Tự Đức chưa thể biết được mưu đồ không trong sáng của nhà Thanh!
Tập tâu của tổng đốc Trực Lệ kiêm biện thông thương sự vụ đại thần là Trương Thụ Thanh (trước đây làm tổng đốc Lưỡng Quảng) đã thể hiện mưu đồ đục nước béo cò ấy:
“Theo độc ác ngầm của người Pháp, Nam Kì của Việt Nam đã bị bỏ mất. [Nay] Bắc Kì đâu dễ giữ được, mà nước Pháp còn lần chần nghĩ kĩ, chưa dám thôn tính ngay. Cố nhiên là bởi Bắc Kì hiểm trở, sức [Pháp] hoặc không thể lấy ngay được. [Pháp] cũng ngại vô cớ nổi lên chiến tranh, sợ Trung Quốc hỏi đến, cho nên buộc nước Việt Nam ngay vào trong điều ước thông thương, [rồi] nhân lúc sơ hở, [Pháp] làm ra trái ước, [chúng] bắt làm [điều] ước lại, tức [là], bề trong thu được lợi đất đai mà bề ngoài chối cãi tiếng cướp nước. [Nước Pháp tiến hành theo cách đó là vì] nước [Pháp] ấy không có thế phạm đến Trung Quốc, [mà] ta [:Trung Quốc] cũng không có [lí] lẽ sinh sự với nước ấy. Đây là mưu xảo trá của nước Pháp, mà Trung Quốc mưu tính nước Việt càng không thể hoãn được.
Tổng lí nha môn Vương đại thần nghĩ nước Việt Nam bị nạn nước Pháp ngày càng lấn dần, mà [chúng] tính đến thêm quân cứu viện, [nên đại thần ấy] lo mất hết rào giậu. Tôi nghĩ các tỉnh ở Bắc Kì [quả] thực nước [Pháp] ấy vẫn dòm ngó, [vốn] thực là phên che của tỉnh Vân Nam và Lưỡng Quảng. Trong ba tháng [năm Nhâm ngọ 1882] quân Pháp đánh phá Bắc Kì, sự cơ ngày càng gấp. Sau người Pháp lại đem thành trì giao trả cho quan Nam! Quỷ quyệt biến đổi luôn, ý không thể lường biết được. [Quả thực,] sợ [chúng] lại dùng mưu cũ chiếm giữ sáu tỉnh Nam Kì, làm hoà ước mới, thu Bắc Kì trong tay, bắt nước Việt Nam phải theo. Việc quả đến thế, [thì] nhân đấy đối phó càng khó.
Cách phòng giữ biên giới của Trung Quốc ngày nay, chỉ có sai quân đóng giữ của tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, giữ ngoài biên giới, vẫn lấy tiếng là đánh thổ phỉ nước Việt Nam, để mưu tiến lên, tức [là] làm chỗ cho quân ta [:Trung Quốc] đóng giữ, hoặc [:có thể] khỏi sự lo người Pháp lấn dần.
Tóm lại, Hồng Hà [thì] là Pháp vẫn chú ý, Bắc Kì [thì] là ta [:Trung Quốc] tất phải tránh [tranh?], giữ ở bốn bên [Bắc Kì], phòng bị trước lúc có việc.
Nước Việt Nam khó mong tự tính được, nước Trung Quốc tất không nên tự để lỡ việc” (140)
.
Vua Tự Đức, triều thần và thượng thư Nguyễn Văn Tường chỉ biết vua nước Thanh Trung Hoa vừa “mới giáng dụ: “Cho bọn quyền tổng đốc Quảng Đông là Du Khoan, tuần phủ Quảng Tây là Nghê Văn Uốt, tổng đốc Vân Quý là Lưu Trường Hiệu, đều sửa tuyển quân thuỷ, quân bộ, chia đóng chỗ yếu hại, để làm thanh thế cứu viện từ xa cho Bảo Thắng [địa phận cư ngụ của Lưu Vĩnh Phúc ở tỉnh Hưng Hoá nước Đại Nam], chớ chỉ làm kế đóng cửa tự giữ”” (140) .
Thế là đã quá rõ, Trung Quốc đã có kế hoạch xâm chiếm Bắc Kì với danh nghĩa bảo vệ chính Trung Quốc! Và nhà Thanh lại tranh thủ Lưu Vĩnh Phúc, trợ giúp trực tiếp cho họ Lưu!
Pháp biết tình hình quân Thanh và kế hoạch cầu viện nhà Thanh của nước Đại Nam ta như vậy, nên chúng cũng đem thêm tàu binh đến Bắc Kì, neo đóng ở Sơn Tây, Hưng Hoá, Bạch Hạc, mỗi nơi hai chiếc (140).
Thống đốc Hoàng Tá Viêm giục quân Lưu Vĩnh Phúc về Thục Luyện, còn các toán quân huấn luyện đến Hưng Hoá, Thái Nguyên, nay đều được triệu về đóng ở chỗ gần tỉnh Sơn Tây (140).
Thống đốc họ Hoàng cùng hai tĩnh biên phó sứ Trương Quang Đản, Nguyễn Hữu Độ và các quân thứ Sơn, Hưng, Tuyên, Bắc, Thái, Lạng, được lệnh dụ “hễ có quân Thanh đến đóng gần, đều phải cấm trấp thuộc hạ yên lặng để đợi lệnh, không được hành động bậy, xem hai bên [Trung – Pháp] làm việc, cử động thế nào, tâu lên ngay” (140) .
Trần Đình Túc cũng được lệnh thôi hàm khâm sai đại thần vì Hà Nội xem như đã được trao trả, vì trong thực tế Trần Đình Túc cũng không thể thương thuyết được gì (141), một khi Hà Nội và Bắc Kì, mới đầu tưởng chừng lặp lại sự thể năm Quý Dậu (1873). Nhưng đó chỉ “xem như” và “tưởng chừng”, mặc dù ai cũng biết rằng không phải như vậy!
Tháng chín Nhâm ngọ (1882), tổng đốc [Nam] Định – [Hưng] Yên Vũ Trọng Bình và các quan tỉnh Nam Định như Đồng Sĩ Vịnh, Hồ Bá Ôn, Lê Văn Điếm chiêu mộ quân người Thanh, nhưng rất đáng tiếc là cấp lương quá lệ định, nên bị trách phạt (142)!
Quan tướng nhà Thanh Hoàng Quế Lan lại được tăng cường quân từ Trung Hoa sang, quân số lên đến mười hai doanh (143). Số quân Thanh ấy đóng trên bốn tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Thái Nguyên (tả lộ, tả ngạn sông Hồng). Triệu Ốc, cũng tướng nhà Thanh, thống lãnh năm doanh, đóng ở Tuyên Quang và cả ở Thái Nguyên (hữu lộ, hữu ngạn sông Hồng). Quân Thanh đã tăng cường thêm vào khoảng trung tuần tháng chín ấy (143).
Như mọi lúc tình thế trở nên căng thẳng, gay go, những cuộc nội loạn thường ít nhiều nổi lên, lần này, lại xuất hiện sự nổi loạn ở phủ Ứng Hoà thuộc tỉnh Hà Nội. Cầm đầu cuộc nổi loạn ấy là Tư So và Lý Hoà (144). Hai kẻ nổi loạn này dẫn quân xông vào đốt phá dinh phủ, cướp ấn phủ và thả tù phạm để thêm quân. Quá bất ngờ và phòng xét sơ hở, tri phủ Đinh Gia Lễ và suất đội Trần Đình Tân lại “không chịu đem quân chống đánh” (144) , phải bị giáng lưu. Nguyễn Chính, Bùi Ân Niên đem quân nã bắt (144).
Tại Viện Cơ mật – Thương bạc, khoảng cuối thượng tuần tháng chín nguyệt lịch, trước tình hình đã ở vào thế cưỡi hổ, lại càng phải tuyệt đối bí mật, nên Viện – Bạc đã di chuyển, hoán đổi đến phòng Thượng bảo Nội Các (bên chái phía trái Tả vu Điện Cần chánh) và bàn định làm thêm nhà vuông phía sau chỗ ấy, làm nơi kín đáo cho tứ trụ đại thần bàn luận việc cơ mật và trực đêm (145).
Có một điều khiến thượng thư Bộ Hộ, đại thần Cơ mật viện Nguyễn Văn Tường không thể không lặng người đi trong nỗi buồn. Đó là nỗi buồn từ “hoà” ước Nhâm tuất 1862. Thoáng lặng người với nỗi buồn ấy ập đến, vào một ngày tháng mười Nam lịch, Nhâm ngọ (1882), khi ông đọc đến bản tâu của tuần phủ [Bình] Thuận – Khánh [Hoà] Trần Lưu Huệ, điển nông phó sứ Nguyễn Thông và những dòng châu phê của vua Tự Đức trên phiến tâu ông lược ghi hôm trước. Nhà vua chuẩn y việc sai phái hai viên quan ấy “hội đồng với phái viên nước Pháp, khám xét địa giới phận nam ở Bình Thuận và Biên Hoà. (Núi Thần Quy trở vào nam thuộc tỉnh Biên Hoà [thuộc Pháp], trở ra bắc thuộc tỉnh Bình Thuận [thuộc Đại Nam])” (146) . Không phải lấy sông làm ranh giới, mà ấy núi làm mốc chia cắt! Nếu nói bằng ẩn dụ, phải chăng đó cũng là vết thương chia cắt Đất nước, đang sưng tấy lên, nhức nhối hơn cả sông Gianh thuở trước? Dẫu sao, vết thương sông Gianh, đau xé suốt hai trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh, cũng đều là Đại Việt! Một Đại Việt, tuy vậy, nhưng là một Đại Việt trở thành Đàng Trong, Đàng Ngoài, một Đại Việt nội chiến, núi xương sông máu, và tất nhiên có hận thù, để rồi sau triều Tây Sơn ngắn ngủi, bên thắng trấn áp bên bại (bại vong trước Quang Trung và bị trị bởi triều Nguyễn, kể từ Gia Long). Vết thương núi Thần Quy, khác hẳn. Tuy một bên thuộc Pháp, một bên vẫn là triều Nguyễn còn độc lập, tự chủ, nhưng nhân dân Nam Kì vẫn hướng về triều Nguyễn, vẫn chống Pháp. Không, so với vết thương núi Thần Quy, vết thương sông Gianh đau đớn, nhức nhối hơn nhiều. Có điều, vết thương sông Gianh đã có phần nguôi ngoai, để sông Gianh mãi mãi vẫn lại là dòng sông tự nhiên mênh mang, trong mát… Thượng thư Nguyễn Văn Tường bỗng chìm vào một thoáng ngậm ngùi liên tưởng.
Tại sao đến lúc này Pháp lại đòi xác định lại ranh giới, yêu sách khám xét phần đất phía bên ta? Ông biết, chúng đã biết ta tăng cường phòng thủ vùng địa đầu nơi ấy! Thoáng lặng người với nỗi buồn chợt tắt, để dấy lên trong lòng ông niềm căm hận…

13

Hồng lô tự khanh, biện lí Bộ Hộ Ông Ích Khiêm (147) nói với thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường, sau khi ông đặt chén trà nóng trên tay xuống chiếc dĩa trong vuông khay:
- Tôi thấy tôi có năng lực về quân sự hơn là về quốc kế dân sinh…
Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười:
- Sao quan biện lí lại khiêm tốn thế! Quan biện lí đã từng là một thần đồng văn triết sử, cũng đã từng là một danh tướng trong việc cầm quân đánh giặc, tiễu phỉ, thì trong lúc này, tạm thời làm việc ở Bộ Hộ, cũng phải là danh tướng về quốc kế dân sinh chứ!
Danh tướng họ Ông thở dài. Gương mặt ông hơi buồn. Ngẫm nghĩ một lúc, ông lại nói:
- Làm việc Bộ Hộ, thật ra cũng có nhiều cái hay. Trước khi bước hẳn sang nghiệp tướng cầm quân, tôi cũng đã có một số năm làm tri huyện, cũng lo ruộng đất, thuế khoá, sổ đinh, quân nhu và đủ thứ việc của một quan đầu huyện. Nhưng từ khi cầm quân, là một tán lí, một tham tán với hàm tham tri Bộ Binh, tôi trót quen vẫy vùng, với luật lệ chiến trường “tướng nhất hô quân bá ứng” (tướng một người khởi xướng, quân trăm đội đều hưởng ứng), “quân lệnh như sơn” (lệnh quân đội nặng và cao như núi) . Thế mà bây giờ hai bản tấu trình của tôi đều bị vua bác, thật quá chán! – Quan biện lí Ông Ích Khiêm cười lớn –. Vậy mới biết, làm tướng cầm quân tuy khổ cực, lắm khi bị trúng thương và không lúc nào không gần kề cái chết, nhưng lại có oai phong nghiêng trời lệch đất. Không có gì hạnh phúc hơn là những ngày tháng oanh liệt đó…
- Việc Bộ Binh, hiện do quan thượng thư Tôn Thất Thuyết và quan đại thần Trần Tiễn Thành nắm giữ, cố vấn… – Thượng thư Nguyễn Văn Tường bỏ lửng câu nói –. Việc nhà vua không đồng thuận theo kiến nghị của quan biện lí là bởi ta đang tranh thủ người Thanh, để đối trọng với bọn Pháp và các nước Tây dương khác!
- Khi nhà vua chuẩn cho người “thuộc khách là Lương Văn Phong mua đóng tàu thuỷ nhỏ đi đường sông, chở than đến Đà Nẵng, Ông Ích Khiêm [tôi] rất lo về tạ sự [: lo chúng mượn việc này để làm việc khác], xin cấm bãi. [Nhưng] vua không nghe” (148) ! Đó là hồi tháng chín năm Nhâm ngọ (1882) này, mới cách đây một tháng. Mới đây, tháng mười này, bản sớ của tôi dâng kế về quốc phú binh cường, “vua cho là phải” , có điều nhà vua còn phê rằng, “nhưng vì việc phòng giữ biên giới chưa thư [thả], không thi hành được” (147) !
- Sự thật là tình hình rất gay go, Hà Nội vừa thất thủ chưa lâu, bọn Pháp nói trả thành nhưng chỉ là kế hoãn binh của chúng. Vì thế, phỉ được vỗ yên ở biên giới bắc, hiện nay có chỗ đã lại sinh sự, cướp bóc, còn có khả năng ngóc đầu dậy, và các tỉnh khác ở trung châu Bắc Kì đang tăng cường phòng thủ, chờ quân Thanh sang nước ta làm đối trọng với Pháp, để bọn Pháp tự dẹp bớt cuồng vọng tham lam… Tình hình như thế, kế sách quốc phú binh cường của quan biện lí tuy rất hay, nhưng không hợp thời điểm. Thật ra không có gì cần thiết hơn như quan biện lí đề xướng: khai mỏ, có đại thần chuyên trách; mở cục đúc tiền; đặt trường diễn võ, chọn quân khoẻ mạnh để dạy tập. Nếu trước đây vài ba năm, hẳn được thực thi ngay. Thôi, hãy đợi tình hình sáng sủa, thư thả hơn, còn thật sự như quan biện lí họ Ông thấy đó, rất khẩn cấp, căng thẳng.
Biện lí Bộ Hộ Ông Ích Khiêm gật gù. Không phải ông không biết thời điểm này là lúc phải cầm súng, vung gươm, đánh bật bọn Pháp ra khỏi Bắc Kì, để quân Thanh rút về nước, ít ra cũng như thời đoạn vài năm trước đây… Ông thấy thật bực bội cho ông, một danh tướng đã từng trực tiếp chiến đấu cả một trăm mấy chục trận, lúc này, lại làm công việc trái với năng lực quân sự của mình.
Ngẫm nghĩ một lúc, ông cáo từ quan thượng thư Nguyễn Văn Tường, người đã một thời là tán lí, tán tương quân thứ chiến đấu cạnh ông trong nhiều trận.
Nhờ sự tâu xin cuả thượng thư Nguyễn Văn Tường, không lâu sau, Ông Ích Khiêm được như ý nguyện, có chỉ dụ làm tham biện Hải phòng sứ kinh kì (149), cùng Lê Sỹ, Lâm Hoành, Nguyễn Hanh và nhiều viên tướng tá khác lo việc phòng thủ cửa Thuận An và tuyến đồn luỹ dọc sông Hương.

14

Thực dân Pháp vẫn cố sức nắm rõ quan hệ Việt – Hoa. Tên khâm sứ Rheinart viết phúc trình vào Nam Kì ngày 02.08.1882 (19.06 Nhâm ngọ):
“Sau cuộc chiến ở Hà Nội, nước Nam đã đi sát Trung Hoa hơn để được cứu viện và nếu cảm thấy bị ta đe doạ thì họ sẵn sàng hi sinh nền tự trị của họ, sẵn sàng thay đổi những quyền lợi của nước tôn chủ, trước đây chỉ có tính chất danh dự trở thành quyền lợi đích thực của sự thống thuộc, vì họ muốn là, thà chịu làm ngoại thuộc Trung Hoa còn hơn là phải chịu ép dưới ảnh hưởng và hành động quá lớn của ta. Trung Hoa trước đây không để ý gì tới các vấn đề đối ngoại ấy, nay đã bắt đầu thay đổi chính sách” (150) .
Thật ra, ngay từ cuối năm Canh thìn (1880, bước sang đầu 1881), thượng thư Nguyễn Văn Tường đã lập Cục Thuyền chính với ý định ngoại giao về chính trị trong quan hệ vận tải đường biển. Từ tháng ba nguyệt lịch Tân tị (1881), Đường Đình Canh đã tới Huế để có cuộc tiếp xúc sơ bộ. Sau cuộc tiếp xúc Nguyễn Văn Tường – Đường Đình Canh ấy, Tôn Thất Thuyết mới về kinh, nhưng chưa nhận chức vụ gì, chỉ ở nhà chữa bệnh. Từ cuối năm ngoái dương lịch, ngày 30.11.1881 (09.10 Tân tị), tên khâm sứ Rheinart hẳn đã thăm dò để biết Viện – Bạc đã hạ quyết tâm mở rộng ngoại giao, phá vỡ tình trạng bị Pháp cô lập, và hướng mở là về phía Trung Hoa. Bấy giờ y đã biết thái độ chính trị của Nguyễn Văn Tường đã trở nên quyết liệt và ông thực sự là người mà Rheinart gọi là “đứng đầu phe cứng rắn” trong triều đình.
“Nay có Cục Chiêu thương chở hàng thuê, do quan ở Cục ấy giới thiệu, tưởng cũng là một cơ hội. Gần đây tiếp được tin báo Đường Đình Canh tháng này [tháng chín, năm Tân tị (1881)] cũng đến, xin do BỌN TÔI thương thuyết, nhờ viên ấy ngỏ ý với Lý Hồng Chương, nhờ mật dò ý [của] sứ các nước Anh, Mỹ, Phổ [:Đức], để nắm được cốt yếu, thông thuyết giúp cho” (49) .
Sau đó, ngày 27 tháng mười một Tân tị (16.01.1882), Tôn Thất Thuyết mới bắt đầu được dụ bổ nhiệm thự thượng thư Bộ Binh.
Tháng chạp Tân tị (đầu năm 1882), thượng thư sung Viện – Bạc đại thần Nguyễn Văn Tường đã tiếp xúc trực tiếp với Đường Đình Canh, một đại diện của Chiêu thương cục:
“Vua cho là quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh ngờ; bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn kín với Đường Đình Canh.
[Đường] Đình Canh nói: “Tháng mười năm nay, khâm sai nước Thanh đóng ở nước Anh là Tăng Kỷ Trạch báo tin rằng: “Nghị viện nước Pháp bàn kín, Bắc Kì nước ta đất cát màu mỡ, núi sông lại có mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, than đá, xét ra tình thể, chỉ giở bàn tay là xong. Lãnh sự nước Pháp là Thoát Lãng lại đã xin đem một, hai nghìn [1.000 – 2.000] quân đánh lấy Bắc Kì. Nghị viện nước Pháp đã chuẩn y. Chẳng bao lâu tất đem quân nước ấy cùng các đạo quân ở Tây Cống [:Sài Gòn] khẩn cấp cùng phát đi. Còn [Pháp] nói là đuổi Lưu Vĩnh Phúc, chỉ là nói thác ra mà thôi. Vua nước Thanh giao cho các nha môn quân cơ bàn cho thỏa đáng, cho nên tổng đốc tỉnh ấy phái đạo viên ấy báo tin cho nước ta, phải mưu tính ngay để mong giữ được”.
Vua cho là thư của tổng đốc ấy đã hồn nhiên, ta cũng không nên lộ; sai Văn Tường mật dặn [Đường] Đình Canh ba việc:
+++ Nước ta triều cống nước Thanh, các nước đều biết. Nước Thanh đặt Tổng lí nha môn, công luận ở đấy. Nếu họ sinh lòng trái lời ước thì nước Thanh nhận làm thuộc quốc của nước Thanh, [để] cùng với các nước tranh luận, thì họ cũng không dám trái công luận để làm theo ý riêng. Nhưng cho nước ta đặt quan đón đón chờ [:quan tiếp tân, quan ngoại giao] ở kinh đô nước Thanh, nếu có việc gì, được tố cáo ở Tổng lí nha môn.
+++ Ở Quảng Đông, hiện nghe lãnh sự các nước phần nhiều đóng ở đấy. [Triều đình Đại Nam] muốn nhờ quan tổng đốc Quảng Đông tâu xin [vua Thanh] cho nước ta đặt một lãnh sự ở đấy để tiện đi lại buôn bán, thông báo tin tức, nhân cùng giao du với các nước để thông hiểu tình ý.
+++ Nước ta muốn phái người đi khắp các nước như các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ, Áo, Nhật Bản, xem xét và học, [nhưng] chưa được thuận tiện. Nước Thanh có tàu thường đi lại các nước ấy, [ta] muốn nhờ đáp đi, [hẳn] không trở ngại.
Đến khi [Đường] Đình Canh về, vua sai viết thư trả lời tổng đốc Quảng Đông. Đại khái nói: “Đầu mối việc ấy đã hiểu qua cả. Nay nên làm thế nào mà có thể được tiện, [thì] đã như đạo viên họ Đường trình bày ở trước mặt tất cả”.
Và [ngoài ra, nhà vua còn bảo] gửi thư cho thự lí thông thương khâm sai đại thần nước Thanh là Lý Hồng Chương.
Lại đều đem đồ vật gửi tặng: tặng Trương Thụ Thanh, Lý Hồng Chương mỗi người một đôi ngà voi hạng nhất, một cái sừng tê hạng nhất. Sau, tổng đốc họ Trương [Trương Thụ Thanh] đem đồ vật ấy trả lại, nói rằng, nhận sợ nước Pháp ngờ, có việc khó giảng thuyết; tổng đốc họ Lý [Lý Hồng Chương] cũng lấy thơ và tờ khải đưa cho, để tỏ tình cùng khuyên về ý đều phải tự cường” (151)
.
Quả là tên khâm sứ Rheinart đã phúc trình vào cho thống đốc Nam Kì khá chính xác! Và hẳn là tên lãnh sự Pháp tại Trung Hoa cũng đã báo cáo về Pháp vào ngày 24.11.1882 (14.10 Nhâm ngọ):
“Theo yêu cầu của Nam triều gởi đến triều đình Trung Hoa vì có cuộc tranh chấp xảy ra tại Hà Nội, xin một số quân viện là hai mươi ngàn (20.000) người. Hoàng đế Trung Hoa đã phúc đáp bằng những chữ: “Khả, sĩ bắc phong tái biện”. Chữ “khả” có nghĩa là “được, có thể”, đó là dấu chấp thuận, hoàng đế Trung Hoa thấy vua nước Nam xin như vậy là phải, nên chấp thuận. Còn “sĩ bắc phong tái biện” thì có thể dịch là: “Ta sẽ thi hành biện pháp ngay khi gió bắc thổi tới”. Trung Hoa đã trả lời: “Rất tốt! Chúng tôi sẽ thi hành biện pháp ngay khi có gió bắc thổi tới”” (152) .
Trước ngày tên lãnh sự Pháp ở Trung Hoa phúc trình về Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp tại Paris khoảng ba tháng, thật sự quân Thanh đã áp sát ra biên giới từ tháng bảy nguyệt lịch Nhâm ngọ (khoảng tháng tám 1882). Điều đó dẫu sao cũng khiến cho triều đình Huế vững tin.
Ngày 13.08.1882 (30 tháng sáu Nhâm ngọ), thượng thư Tôn Thất Thuyết vẫn còn bị Vua Tự Đức không chấp thuận, qua việc vua viết dụ phê phán việc ông được đề cử. Vì vậy, ngay từ lúc thượng thư Tôn Thất Thuyết hẳn chưa được sung vào Viện Cơ mật, vào ngày mùng 06 tháng 09.1882 (24 tháng bảy Nhâm ngọ), quyết tâm chủ chiến đã được Nguyễn Văn Tường đưa ra.
Cũng vẫn tên Rheinart, ngày 16.09.1882 (05.8 Nhâm ngọ), y viết văn thư phúc trình từ sự thăm dò tình báo của y, đệ trình vào Gia Định cho tên thống đốc Le Myre de Vilers:
“Trong phiên họp ngày 06 tháng [chín dương lịch 1882] này, Viện Cơ mật đã đồng thanh nhất trí theo phe chủ chiến chống Pháp. Một bản tâu đã được viết theo ý ấy và được tất cả mười sáu thành viên của Viện kí tên, đệ lên nhà vua xin chấp thuận. Người ta phỏng rằng nhà vua đã ngả về ý kiến đó, vì vào tháng năm [dương lịch, 1882], ông [:vua] đã cho vận động xin Trung Hoa can thiệp” (153).
“Nếu tách ra từng cá nhân một, thì các thành viên (của Viện Cơ mật) hẳn chưa đồng ý với sự đổ vỡ. Người ta còn có thể nói một cách khá chắc chắn là đa số đã phản đối; nhưng vì những người có ảnh hưởng nhất lại là những kẻ nghịch thù nhất. Họ lôi cuốn những người khác phải theo. Nhưng người này sợ bị liên lụy nếu tỏ ý phản đối” (153)
.
Thượng thư Bộ Hộ sung đại thần Viện Cơ mật Nguyễn Văn Tường, dĩ nhiên vẫn là “nhân vật ảnh hưởng nhất triều đình Huế” (154) (30.11.1881 [09.10 Tân tị]) .
Nếu hai khâm phái lãnh sự Nguyễn Thành Ý, Nguyễn Lập thường xuyên gửi tin tức tình báo về cho triều đình Đại Nam tại kinh đô Huế, thì các tên khâm sứ Pháp tại Huế, lãnh sự Pháp ở Yên Kinh tại Trung Hoa cũng không kém gì!

15

Tháng mười hai, những ngày gần cuối mùa đông rét buốt, thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật được sung chức khâm sai đại thần, cùng với thị lang gia hàm tham tri Nguyễn Thuật sung làm phó khâm sai, đi sang Thiên Tân tại Trung Hoa, công cán về ngoại giao với nhà Thanh (155). Cũng trong phái đoàn ấy, nhưng biện lí Bộ Hộ Nguyễn Phiên (Nguyễn Thượng Phiên) sung chức khâm phái lại sang Quảng Đông để làm nhiệm vụ đệ trình tin tức, thông báo (155).
Đây là một bước thực hiện kế hoạch liên minh với nhà Thanh đã được Viện – Bạc vạch ra từ tháng tám Tân tị (1881).
“Từ khi Hà Nội có việc, ta đã đưa thư cho tổng đốc Quảng Đông là Dụ Khoan [và] Tăng Quốc Thuyên, nhờ liệu định cho thoả đáng.
Đến nay, tổng đốc họ Tăng uỷ Cục Chiêu thương [,đại diện] là Đường Đình Canh, [các viên] tỉnh thuộc là bọn Mã Phục Bôn, Chu Bỉnh Lân, cùng với phái viên Yên Kinh là Đường Cảnh Tùng đến hỏi hiện tình và bàn việc nên làm. ([Đường Cảnh Tùng là] chủ sự, tiến sĩ xuất thân, phụng mật chỉ [của vua Thanh] đến nước ta dò xét).
[Trong khi bàn luận, phía phái đoàn Trung Hoa] có câu nói rằng: “Dùng sức mà đánh, [thì] chưa thấy thừa sức; lấy lí mà biện bác, hoặc có thể giải được”.
[Triều đình Đại Nam] đã phái Nguyễn Thuật sang làm khâm sai, cùng đi với quan nước Thanh, đến trình tổng đốc Quảng Đông, nhờ chuyển lên [vua Thanh] giúp. Bỗng [triều đình ta lại] tiếp được điện tín của Lý Hồng Chương [với nội dung] mời đại thần nước ta độ hai, ba người đến Thiên Tân để hỏi han và bàn việc đối phó với nước Pháp. Vua bèn chọn bọn [Phạm] Thận Duật đem quốc thư đi.
[Về nguyên nhân của bản điện tín:] Nước Thanh được tin Hà Nội thất thủ, lập tức sai Lý Hồng Chương thương thuyết với công sứ nước Pháp là Bảo Hải [:Bourrée]. Bảo Hải [:Bourrée] cũng muốn thuận theo, [y] viết thư về nước Pháp, [xin] xét định. Cho nên Lý Hồng Chương mới có điện tín ấy… […] …” (155)
.
Chánh phó khâm sai đại thần Phạm Thận Duật, Nguyễn Thuật phải đi đường mất hai tháng mới đến Thiên Tân ở Trung Hoa! Quảng Đông, nơi khâm phái Nguyễn Phiên phải đến, không xa biên giới nước ta là mấy.
Mùa đông năm sau, họ đều trở về nước…
Dẫu sao, những nỗ lực phá vỡ sự cấm vận, bao vây ngoại giao của Viện – Bạc là rất đáng kể, khiến cho thực dân Pháp phải thất điên bát đảo. Trong đó, vai trò nhà ngoại giao kì cựu Nguyễn Văn Tường có những đóng góp rất quan trọng vào việc đề xướng và vạch nên kế hoạch.
Trong lúc vẫn tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao với Trung Hoa, ở Bắc Kì, quân Thanh đã sang đóng ở nhiều tỉnh tại nước ta và quan quân nước ta vẫn có kế hoạch phòng thủ, triển khai lực lượng đến các tỉnh với danh nghĩa bắt cướp nhưng thực chất là chuẩn bị đối phó với giặc Pháp, thực hiện sự dự phòng để cứu viện cho nhau thật nhanh chóng (156) (khắc phục nhược điểm trước đây, Pháp đánh tỉnh nào, chỉ tỉnh ấy tự chống đỡ!).
Vua Tự Đức lại ra dụ, vẫn chú trọng đến việc thương thuyết ngoại giao!
“… Nay đã trải ba mùa mà quân nước [Pháp] ấy chưa chịu rút về, lòng chúng không thể tin được, thì sự cơ càng phải cẩn thận. Nay hiện đương thương thuyết chưa xong, sơ hở không chu đáo một tí, lâm sự sao đối phó ngay được… […]… Phòng bị nghiêm ngặt kĩ hơn, lại tìm cách ngăn hẳn bọn Hán gian, cốt để cho nhân dân sở tại được ở yên, bọn bất lương không dỗ dành làm loạn được, thì tự khắc chúng [:Pháp] không xen vào đâu được…” (157) .
Vua Tự Đức gần đây vì quá lo lắng, căng thẳng, nên ngã bệnh. Đó là sắc dụ bình tĩnh, vẫn rất bình tĩnh, mặc dù được viết trong lúc nhà vua đang mệt nhọc, ốm đau, lại bất bình với hoàng quý phi Vũ thị (158). Trong tình cảnh chung và riêng tư ấy, vua Tự Đức vẫn hết sức cố gắng làm việc, luôn đọc, phê các bản tấu trình và tham khảo ý kiến đình thần, nhất là Viện – Bạc (159).
Hạ tuần tháng chạp Nhâm ngọ (1882) này, sao chổi lại mọc. Ban đầu, sao chổi dài một thước ta. Dần dần, dài đến hai thước ta. Sau ba ngày, sao chổi mới lặn mất.

16

Tết Nguyên đán năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quý mùi (1883), đã trôi qua.
Triều đình được tin báo thống đốc Pháp tại Gia Định Lê My (Le Myre de Vilers) đã về nước, Tam Sung (Thomson) sang thay (160). Có điều gì khác với chính sách và chủ trương của Pháp trước đó chăng?
Viện – Bạc lại nhận được tập tâu báo từ Thanh Hoá đệ gửi vào kinh đô, với một mẩu tin về hoạt động của phái viên Pháp. Có một vài tên cùng binh lính của chúng đến động Từ Thức (161), một động vốn mang nhiều huyền thoại thuộc tỉnh ấy. Để bảo đảm việc bí mật quân binh, lập tức có lệnh ngăn chúng lại.
Về Cục Chiêu thương nhà Thanh, tuy đã có những quan hệ không những trên mặt nổi là vận tải gạo và các hàng hoá khác, còn có quan hệ chủ yếu ở mặt chìm là liên minh quân sự, trong tháng chạp năm ngoái, nhưng khi Cục ấy xin đóng tàu thuyền nhỏ để tiện vào các sông thuộc bảy tỉnh Bắc Kì chuyên chở lương thực, triều đình vẫn không thể chấp thuận (162). Đó cũng vì bảo mật việc phòng thủ và chưa hiểu nhà Thanh thực chất đang có thái độ như thế nào. Tháng giêng này, trên quan hệ mặt nổi, Bộ Hộ của thượng thư Nguyễn Văn Tường tiến hành bàn bạc với Cục Chiêu thương về việc chở thóc thay vì gạo để tồn trữ được lâu hơn, và đã tâu xin để cấp tiền tử tuất khá hậu cho một số thuỷ thủ thuộc Cục ấy bị thiệt mạng do tàu bị va chạm, mắc cạn, hỏng máy ngoài cửa biển Thuận An (Huế) (162). Sự cố xảy ra một phần là bởi cửa biển kinh đô này hiện nay đang bị mỗi ngày mỗi bồi nông dần một cách tự nhiên (162).
Bộ Hộ vẫn cố giữ sự đúng mực trong quan hệ này.
Cũng tháng giêng này, phó sứ Nguyễn Thuật đi sứ sang Trung Hoa, đến nay về lại kinh đô Huế. Nguyễn Thuật tâu trình, vẫn chưa thấy có gì khả quan hơn trong quan hệ với Trung Hoa, nhất là việc cùng nhà Thanh vận động các nước phê phán sự xé bỏ “hoà” ước Giáp tuất 1874 của Pháp, việc Pháp đang xâm lấn Bắc Kì. Nguyễn Thuật lại tâu về tình hình biên giới bắc: Kẻ gian, bọn hải tặc và quân Thanh đang dỗ mua, chận bắt dân ta và đem về nước Thanh (163)! Tháng mười một năm ngoái vừa bêu đầu tên tướng phỉ hung hãn Lục Chi Bình (164), chúng vẫn chưa chịu để cho dân ta yên ổn. Quân Thanh mới sang, chưa giúp được gì trong việc đánh Pháp, đã vội giở trò đốn mạt! Không thể không gửi văn thư trách cứ, bàn việc với tuần phủ Quảng Tây và truy bắt, phạt nặng những kẻ phạm (163).
Tình hình về thực dân Pháp và nhà Thanh Trung Hoa trong những ngày đầu năm mới Quý mùi này vẫn chỉ là như thế. Hơn ai hết, nhà ngoại giao kì cựu Nguyễn Văn Tường hết sức chú tâm, trút hết sức lực vào mặt trận này.
Việc phòng thủ, chuẩn bị thêm về binh lực, vẫn được thượng thư Tôn Thất Thuyết đảm đương, lo toan.
Tuy nổi tiếng là một vị tướng thiên về Phật giáo, căm thù “tả đạo” (165), nhưng thượng thư Tôn Thất Thuyết đã tâu xin cho Tạ Hiện về kinh làm chưởng doanh Hùng Nhuệ, mặc dù quan tỉnh Bắc Ninh tâu trình vợ Tạ Hiện là người theo Thiên Chúa giáo, “sợ quan ngại” (166) . Quan ở Bộ Binh và hẳn được sự đồng ý của thượng thư, cho rằng Tạ Hiện có nét mặt oai hùng, dáng dấp to lớn, và tuy là quan võ nhưng Tạ Hiện cũng biết văn tự, ăn nói không phải không có nghĩa lí, hơi tự phụ, nên không khỏi bị dèm pha, thế thôi (166). Hẳn Bộ Binh đã nghiên cứu trường hợp cụ thể này, thấy rằng quan hệ vợ chồng vẫn là “phu xướng phụ tuỳ” (chồng kêu vợ dạ), và đặc biệt với viên võ tướng Tạ Hiện hẳn vẫn đa thê ấy, vợ con không thể chi phối ông được một mảy may nào.
“Bấy giờ, tàu chiến nước Pháp đến thêm, mà nước Thanh mới phái đến chỉ ba doanh, hiện [quân Thanh] đóng ở Quán Ty, đi lại dò xét. Tổng đốc Bắc Ninh là Trương Quang Đản dâng sớ nói: Nước Pháp phái thêm tàu chiến, [thế] đã bức hơn trước. Ta há nên im lặng, chịu phép để đợi quân nước ngoài từ xa đến. Việc [thấy] cùng chậm lắm. Nghĩ nên chỉnh bị ngay các thứ đối phó với giặc… […] … Hạt Bắc Ninh gần sát với Đồn thuỷ của Pháp, chống giữ rất khẩn cấp, [xin] mật tư cho tỉnh Lạng Sơn bàn với [tướng Thanh] Hoàng Quế Lan, chọn phái quân một vài doanh đóng thêm ở đồn Nhã Nam tỉnh Bắc. Lương Quy Chính, Nguyễn Cao, Trần Xuân Soạn liệu trích quân ở quân thứ và toán quân ở Cao Bằng, Lạng Sơn về tỉnh [Bắc] chia nhau đóng giữ. [Bùi] Ân Niên xin vẫn ở lại tỉnh Bắc để trấn áp, [và] cùng với [Trương] Quang Đản trù nghị việc phòng bị” (167) .
Ở Viện Cơ mật – Thương bạc, đối với thượng thư Nguyễn Văn Tường, vào thời điểm này, hầu như choán hết tâm trí ông, ngoài trận thế ngoại giao, còn là mặt trận Bắc Kì. Ông nghiên cứu cẩn trọng những bản tấu, sớ ấy để đệ trình lên vua. Ông vẫn thấy rất tiếc khi vào lúc này, thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết chưa được nhà vua cử vào Viện – Bạc, trong khi thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật đã sang Trung Hoa thương thuyết. Lúc này, quản lí sự vụ Bộ Binh Trần Tiễn Thành lại bị triều thần chê trách và ông ta đang xin nghỉ ốm (10)!
Đến thời điểm hiện nay, vua Tự Đức lại quá mệt nhọc và bệnh chưa khỏi! Nhà vua chắc hẳn phải quyết định bổ sung thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết vào Viện Cơ mật – Thương bạc, đồng thời, chuẩn cho tả tham tri Bộ Lại kiêm quản Nha Thương bạc Nguyễn Trọng Hợp thăng thự thượng thư Bộ ấy, tuy chưa sung Nguyễn Trọng Hợp vào tứ trụ đại thần.
Cuối tháng giêng, đình thần quyết định răn trị một nhóm dân Hải Dương, Bắc Ninh, Thanh Hoá sao truyền cho nhau đọc ngụy thư (168). Đó là sách ngụy, trước đây do tên giặc “phù Lê” Hồ Văn Vạn cùng một tên giặc khác (tên là Quang) làm ra, nhằm mục đích tuyên ngôn cho việc chúng nổi dậy bằng vũ trang, khi Jean Dupuis, Françis Garnier đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, Quý dậu (1873) (168). Trong những kẻ bị xử án ấy, có Cao Bá Liên (168), con trai Cao Bá Đạt, tức là cháu của Cao Bá Quát (một thi sĩ tài hoa nổi loạn, hồi lực lượng Thái bình thiên quốc bên Tàu dấy binh)!
Tháng giêng Quý mùi (1883), tuy vậy, vẫn trôi qua, chưa có động tĩnh gì về chiến tranh. Nhưng triều đình và nhân dân cả nước đều biết rằng đó là những khoảnh khắc im ắng trước khi chiến tranh bùng nổ dữ dội.
Tháng hai nguyệt lịch, một nửa quan tỉnh Hà Nội đi đóng trụ sở ở nơi khác, vì trong nội thành, Pháp vẫn chưa rút, đang khống chế (169).
Tỉnh Nam Định, dưới quyền của tổng đốc Định – Yên Vũ Trọng Bình, đành phải đóng Ti Thuế quan ở sông Trà Lý (170), trước sự tăng cường quân của giặc Pháp. Do đó, Nam Định vẫn được mộ thêm quân Thanh và tập trung, tuyển chọn võ sĩ nước ta, sau khi ông tâu báo: Theo tin tình báo, Pháp chuyển đến, đóng thêm năm trăm (500) quân ở Hải Dương, một ngàn (1.000) tên ở Hà Nội (170). Một lực lượng xâm lược không phải nhỏ, nếu kể đến vũ khí chúng được trang bị!
Phó kinh lược sứ Bùi Ân Niên chiêu mộ thêm thủ dũng và tuyển chọn được một ngàn (1.000) quân tinh nhanh, khoẻ mạnh, để chuẩn bị chiến đấu (171).
Hiện tượng cửa Thuận An bị lấp dần, trước mắt là một thuận lợi về phòng thủ. Tàu chiến của Pháp không thể vào được. Nhưng việc vận tải các hàng hoá nhu yếu, nhất là lương thực lại ách tắc. Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường phải có kế hoạch trích trữ lương thực cho kinh đô (172). Đó cũng là công việc dự bị trong tình hình chiến tranh hẳn sẽ nổ ra.
Trong thời điểm im ắng căng thẳng ấy, triều đình lại nhận được văn thư của thự lí thông thương đại thần nước Thanh Lý Hồng Chương.
“… Việc quý quốc [Đại Nam] giao thiệp với nước Pháp, sau khi bản thự [:tôi] về Thiên Tân coi việc, [đã] nhiều lần nghe tin, [cũng] đã cho bộ đường Lưỡng Quảng sao thư của quý quốc trước sau gửi đến để cho biết. [Bản thự tôi] bỗng gặp công sứ Bảo [:Bourrée] nước Pháp đóng ở Trung Quốc đi qua Thiên Tân, [nên] cùng hỏi bàn ngay trước mặt. [Bản thự tôi] định đem lời bàn thoả đáng, [đưa ra] phép hay, có ích [cho] cả hai nước. Nhưng [quý quốc Đại Nam và bản quốc Trung Hoa] nam, bắc cách nhau, đường xa, chưa biết hiện tình thế nào.
Quý quốc là phên giậu của bản triều, hơn hai trăm (200) năm rất là cung kính. Tổng lí các quốc sự vụ là Vương đại thần và bản thự gặp việc liên quan đến, rất muốn khu xử giúp cho thoả đáng. Mong rằng theo điện tín trước, [quý quốc] phái ngay đại thần đến Thiên Tân, [để] hỏi kín cặn kẽ cho tiện, [từ đó] tuỳ cơ tìm cách điều đình với công sứ nước Pháp” (173)
.
Vua Tự Đức ra lệnh viết phúc thư:
“… Các việc trước, [bản quốc Đại Nam] đã sai sứ thần đem thư đi, [đồng thời] lại đem các việc nước Pháp phái thêm tàu binh đến, [chúng] nói cố đánh quân Lưu Vĩnh Phúc để thông sang Vân Nam, khiến cho nước [Đại] Nam chịu cho nước [Pháp] ấy “bảo hộ” và [cho Pháp] đóng quân ở các kho Hà Nội, Hải Dương. [Các bản thư và lời tường thuật ấy của bản quốc Đại Nam là nhằm] xin chuyển đạt giúp đến Tổng lí các quốc nha môn, xem cơ sự [mà] xử lí khéo giúp cho, [để] cho nước [Pháp] ấy phải nghe [theo công lí]…” (174) .
Đúng là việc thương thuyết vẫn chưa xong. Hướng ngoại giao mở ra về phía Trung Hoa nhà Thanh, qua trung gian nhà Thanh, để đấu tranh với Pháp trước công luận quốc tế về việc Pháp đã bước đầu thực hiện dã tâm xâm lược Bắc Kì lần thứ hai, quả thực, chưa có gì khả quan. Thương thuyết ngoại giao chỉ đang ở mức như thế, còn liên minh quân sự? Về quân sự, nhà Thanh cũng đã cho quân áp sát biên giới và có một số quân doanh đã sang đóng trên lãnh thổ nước ta, nhưng vẫn chưa động tĩnh gì.
Tổng đốc Vũ Trọng Bình tâu trình và được chuẩn y về việc xin lấp các đường sông nhỏ, ngăn đường nhỏ để chặn tàu binh Pháp và đỡ chia quân phòng thủ (175). Đó là việc bất đắc dĩ nhưng phải làm, mặc dù tháng trước, Hà Nội phải tâu xin được đào thêm sông để bớt thế nước lũ chảy xiết (cùng với việc đắp thêm đê) (176).
Ngay sau đó, Nam Định bị tấn công!

17

Ngày mười tám, tháng hai nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi sáu, Quý mùi (27.03.1883), tàu binh của quân Pháp nã đại bác vào thành Nam Định (177). Quan quân chia nhau phòng giữ, bắn trả vào tàu binh của giặc. Súng lớn, súng nhỏ của bọn Pháp bắn đến suốt ngày, vẫn không hạ được thành (177).
Hôm sau, ngày mười chín (28.03.1883), tàu binh Pháp chạy đến sông Vị Hoàng, lại nã đại bác vào thành. Sau đợt tấn công bằng súng trọng pháo, chúng cho quân bộ binh sấn vào cửa đông, quyết phá cửa. Quân ta vẫn anh dũng phản công, nhiều lần đẩy lùi quân Pháp (177).
Tổng đốc Định – Yên Vũ Trọng Bình, vị quan lão thành vừa được vua Tự Đức tổ chức lễ mừng sinh nhật lần thứ bảy mươi cho ông cùng Trần Tiễn Thành hồi năm ngoái (tháng mười một, Nhâm ngọ, 1882) (178). Lúc này, với tuổi bảy mươi mốt, râu tóc bạc phơ nhưng vẫn còn rất quắc thước, khoẻ mạnh, trước sức tấn công dữ dội của bọn Pháp, ông vẫn điềm tĩnh chỉ huy quan quân chống trả quyết liệt. Ông cùng bố chính sứ Đồng Sĩ Vịnh, người Tiên Nộn, Thừa Thiên, cố thủ trong thành, theo kế hoạch đã bàn. Trong khi đó, đề đốc Lê Văn Điếm (phó bảng khoa võ, người Vĩnh Lộc, Thanh Hoá), án sát Hồ Bá Ôn (tiến sĩ khoa văn, khoá Ất Hợi, Tự Đức thứ 28, người Quỳnh Lưu, Nghệ An) dẫn quân cảm tử tiến ra ngoài thành, để chia hoả lực tấn công của giặc Pháp, vì các quan và quân binh không chịu để mất thành (177).
Trước sự phản công mãnh liệt của hai cánh quân cảm tử đã tiến ra khỏi thành luỹ, bọn Pháp phải dốc hết sức, cố tiêu diệt hai cánh quân đó. Cuộc chạm súng rất dữ dội, diễn ra từ giờ mão (5 – 7 giờ sáng) đến giờ ngọ (11 – 13 giờ trưa) (177).
Bấy giờ, nếu thái tử thái bảo, kinh lược sứ Bắc Kì Nguyễn Chính (Chánh) không hèn nhát kéo quân chủ lực, hiện đóng ở xã Đặng Xá, huyện Mỹ Lộc gần đấy, đến phối hợp với quân tỉnh như mật dụ đã ban, hẳn thành Nam Định vẫn được giữ vững và tàu binh Pháp phải bỏ chạy, bộ binh của chúng không khỏi tan tác (179). Nhưng Nguyễn Chính thật sự là một đại thần đáng lên án, nguyền rủa.
Do đó, kế hoạch phòng thủ, phản công bị vỡ!
Đề đốc Lê Văn Điếm vẫn nổ súng về phía giặc khi ông đã bị trúng đạn. Ông hi sinh ngay trên trận địa (177). Tiến sĩ Hồ Bá Ôn vẫn tiếp tục dũng cảm chỉ huy quân binh chiến đấu đến cùng. Đến cuối giờ ngọ, tiến sĩ Hồ Bá Ôn lại bị trúng đạn. Ông băng bó lại vết thương, không nao núng, vẫn phản công cố đẩy lùi giặc Pháp (177).
Nhưng cánh quân thứ nhất của Pháp từ sáng sớm đến xế trưa tấn công vào thành, đến lúc này đã hạ được thành. Quân ta trong thành cũng như ngoài thành đều vỡ tan. Thành Nam Định mất (177)!
Khi thành đã vỡ, quân sĩ đỡ Hồ Bá Ôn ra nơi trú tạm, lo chữa thuốc cho ông. Hồ Bá Ôn nói: “Đã không thể vì nước nhà bảo vệ được thành trì, nay thành mất thì mất theo, còn cầu gì nữa” (180) ! Một tháng sau, ông trút hơi thở cuối cùng, ở tuổi bốân mươi mốt.
Trong những người trung nghĩa, liệt sĩ đã hi sinh, có một sĩ nhân người Nam Định, con trai của án sát Lạng Sơn Nguyễn Mậu Kiến, tên là Nguyễn Bản. Nguyễn Bản đã quyên tiền giúp nhà nước, lại mộ dân quân vào thành cùng quân binh chính quy chống đánh giặc Pháp. Về sau, ông được triều đình phong sắc, thờ ở đền làng để đời đời tưởng niệm (181).
Bấy giờ, trước khi bọn Pháp đưa quân về Nam Định tấn công thành Nam, chúng đã tính liệu để lại ở Đồn thuỷ tại Hà Nội một số ít quân. Phó kinh lược sứ Bắc Kì Bùi Ân Niên và tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản đã cùng binh lính bí mật hành quân về Gia Lâm, Văn Giang, Đông Ngàn, gần sát Đồn thuỷ. Hai vị quan ấy đã dâng sớ xin tập kích vào Đồn thuỷ (177), một mặt triệt hạ đồn này, một mặt để quân của chúng tại Nam Định nao núng khi hay tin hậu cứ đã bị san phẳng. Sau đó, theo kế hoạch, quân Bùi Ân Niên và Trương Quang Đản sẽ lập tức tiến về thành Nam ứng cứu (177).
Kế hoạch phòng thủ, phản công, quyết tấn công để phòng thủ đã được vạch ra nhiều tháng, nhưng tiếc thay, bởi Nguyễn Chính chứ không ai khác, lại làm lỡ sự cơ, khiến thành Nam Định bị hạ quá sớm, ngoài dự kiến. Do đó, quân Bùi Ân Niên và Trương Quang Đản chưa kịp tấn công hậu cứ Đồn thuỷ, thì họ chợt biết được tin bọn Pháp sẽ đánh Bắc Ninh và đồng thời, tin thành Nam Định thất thủ đã đến (177).
Tin thành Nam Định thất thủ bay về kinh đô Huế, khiến triều đình và vua Tự Đức bàng hoàng. Đúng là bàng hoàng! Bàng hoàng hơn cả tin Hà Nội thất thủ, bởi lẽ, chính vua Tự Đức đã nhận định: “Nước [Pháp] ấy mưu tính hạt Nam Định, bọn ngươi biết tình hình ấy đã lâu, phải tính toán phòng bị, lại đã cho kinh lược Nguyễn Chính đem quân đến đóng để cùng nhau giữ, thì mưu kế đã sẵn, người lại nhiều, không hấp tấp, đơn hư như Hà Thành! Bọn ngươi chịu trách nhiệm uỷ thác mà như thế…” (177) ! Và về tỉnh Bắc Ninh, nhà vua biết chúng sẽ thừa cơ tấn công, nên bảo: “Sự thế tỉnh Nam so với trước đã khác, [và] cứ theo Hà Nội báo rằng: Quân Pháp hiện đến tỉnh ngươi [Trương Quang Đản] mưu tính quấy rối. Tỉnh ngươi tướng biền, binh dõng đã họp đông, nếu chúng dám phạm đến, phải dập tắt ngay, chớ để chúng đắc chí, và [hãy] tư bàn với thống đốc Hoàng Tá Viêm góp sức làm [:đánh] ngay cho nhanh” (177).
Hoá ra, kế hoạch tập kích hậu cứ Đồn thuỷ của giặc Pháp khi chúng đưa phần lớn quân về tấn công Nam Định của Bùi Ân Niên, Trương Quang Đản, đã bị chúng dự liệu, và chúng chỉ đợi khi quân ta ở Bắc Ninh tiến hành theo kế hoạch, chúng sẽ đánh vào ngay chính thành luỹ Bắc Ninh!
Không thể không thấy sự phẫn nộ của quan quân lẫn nhân dân kinh đô và Quảng Trị, hai nơi nguyên là kinh sư, vốn nhạy cảm tình hình nhất (182)! Sự phẫn nộ ấy đã dâng cao khi nghe tin Nam Định thất thủ. Thế là đã rõ! Một số người đến lúc này mới buột miệng, “Bắc Kì, tưởng chừng lặp lại”, hoá ra không lặp lại, mà thật sự bọn Pháp lần này quyết tâm phục hận, mối hận chín năm về trước.
Trước sự phẫn nộ ấy, tháng hai nguyệt lịch, tên khâm sứ Rheinart vừa hoảng hốt, lo lắng đến một cuộc tấn công phục hận do quân dân tự phát, vào ngay chính Sứ quán bên bờ sông Hương. Nhưng y vẫn cố giữ vẻ trịch thượng, phách lối, đổ ngược tội cho triều đình. Y ngược ngạo nói rằng, chính triều đình đã tăng cường phòng thủ, lại liên minh với Trung Hoa, mới xảy ra cơ sự ấy! Rheinart vừa lo sợ vừa nói ngược để tìm cách thoát thân. Lập tức, y cho hạ cờ ba màu xanh trắng đỏ, lá cờ mà bọn nịnh hót và tự nịnh hót gọi là Cờ Tam tài, của Nước Cộng hoà Pháp. Rheinart cho hạ quốc kì của nước y khỏi cột cờ trước Sứ quán để xuống tàu (183), giao lại chìa khoá Sứ quán cho Nha Thương bạc. Một vị quan cấp tư vụ của Nha Thương bạc không nhận. Y ném xuống đất một cách khinh mạn. Cuối cùng, Nha Thương bạc phải nén lòng nhờ giám mục Caspar giữ hộ y. Caspar lại vờ tránh né sự dính líu, nhưng cuối cùng Caspar cũng giao cho linh mục Renauld ở nhà thờ Kim Long, để cùng các quan Thương bạc bỏ chìa khoá vào thùng, niêm phong lại một cách lịch sự, cái lịch sự ngoại giao. Thùng ấy đặt trong Sứ quán. Cửa Sứ quan cũng được dán giấy niêm phong, cứ mỗi mười ngày, có người đến xem lại con niêm (184).
Rheinart vào Gia Định ngày 06.05.1883 (30 tháng ba, Quý mùi), trên chiếc tàu Patceval. Tên ranh ma ấy rời khỏi Huế để bảo toàn tính mạng, và để ở Bắc Kì, Henry Rivière tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược mà không sợ vướng bận gì (184)!
Ngay sau khi Rheinart đi khỏi kinh đô Huế, cũng vào tháng hai nguyệt lịch Quý mùi (1883), tàu thuỷ Pháp, một chiếc lớn, một chiếc nhỏ, chạy đến bờ phía nam cửa Lục Hải, tỉnh Quảng Yên. Quân Pháp lên núi làm nhà, dựng cờ tam sắc (185)! Quan tỉnh được lệnh thương thuyết cho tàu ấy rút quân, nhưng vô ích! Đó là vài ngày sau khi bọn Pháp dưới quyền chỉ huy của Henry Rivière đã chiếm đồi Bãi Cháy ở vịnh Hòn Gay (Hồng Gai) (186). Việc xâm chiếm Hòn Gay và cửa Lục Hải, đều do sự tham mưu của hai tên thực dân, khâm sứ Rheinart và kĩ sư Turc (186), không chỉ lợi về khoáng sản là than mỏ, mà còn chiếm lợi thế về quân sự.
“Không bao giờ, không đời nào mà người ta vui lòng cho chúng ta một việc gì. Vậy muốn được cái gì thì chúng ta hãy chiếm lấy, bắt buộc họ phải theo ý chí của ta” (187) .
Đó là hai câu trong văn thư Rheinart viết ngày 09.02.1883 (mùng hai Tết, tháng giêng, Quý mùi) gửi Henry Rivière, tên nhà văn thực dân, có tham vọng phấn đấu “vào Viện Hàn lâm Văn chương Pháp bằng con đường Bắc Kì” (!). “Con đường Bắc Kì” là con đường lập chiến công xâm lược, cướp bóc trắng trợn!
Thế là với tham vọng của chính phủ thực dân tại Pháp và trực tiếp là tham vọng phấn đấu kì quặc, phi văn hoá của Henry Rivière, (ở thời đoạn Viện Hàn lâm Văn chương Pháp vốn có tinh thần nhân bản, nhân văn nhất định, đã bị lũng đoạn hoặc tự đồng loã với chủ nghĩa thực dân), không những Hà Nội thất thủ, Nam Định cũng thất thủ và Hòn Gay, cửa Lục Hải bị chiếm đóng!
Tháng hai nguyệt lịch Quý mùi (1883), năm Tự Đức thứ ba mươi sáu đau thương đến thế!

Hết tệp 4 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh
.

TRẦN XUÂN AN


(133) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 130, 138 – 139.

(134) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 133.

(135) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 140.

(136) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 140.

(137) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 140.

(138) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 146.

(139) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 146.

(140) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 141.

(141) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 144.

(142) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 147.

(143) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 150.

(144) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 149.

(145) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 148.

(146) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 155. Về địa giới giữa Nam Kì thuộc Pháp và Đại Nam (Trung – Bắc Kì), Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC.), do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, bản dịch Phạm Trọng Điềm, hiệu đính: Đào Duy Anh, tập 3, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 137, ghi rõ: “Núi Thần Mẫu: ở phía tây huyện Tuy Lí; là chỗ phân giới giữa tỉnh Bình Thuận và tỉnh Biên Hòa, phía tây nam là động cát, phía đông bắc là rừng rậm”. Ở sđd., tr. 128: “phía tây đến địa giới huyện Phúc Bình [:Phước Bình], tỉnh Biên Hòa”. Núi Thần Mẫu còn gọi là núi Thần Quy. Huyện Tuy Lí đến đời Thành Thái còn được gộp với một vùng đất khác để thành huyện Tánh Linh. Tỉnh Biên Hòa dưới triều Nguyễn bao gồm cả tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Đồng Nai. Núi Thần Mẫu hay còn gọi là núi Thần Quy là một vết thương chia cắt Đất nước [1862 – 1885…] (như ranh giới Nam – Bắc triều [Trịnh – Mạc, 1527 – 1592, tại Thanh Hóa – Sơn Nam], sông Gianh [Trịnh – Nguyễn, 1592 – 1786, tại Hà Tĩnh – Quảng Bình], sông Bến Hải, sông Thạch Hãn [1954 – 1975 tại Quảng Trị]…). Các nơi ấy rất cần được dựng bia để ghi nhớ những nỗi đau lịch sử.

(147) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 157 – 158.

(148) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 150.

(149) TVTĐ., tập 2, Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1996, tr. 230.

(150) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 298 – 299: Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12956, Rheinart gửi thống đốc Nam Kì, Huế ngày 02.08.1882 (19.06 Nhâm ngọ).

(151) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 89 – 91.

(152) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 299: Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12962, ngày 24.11.1882 (14.10 Nhâm ngọ).

(153) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 299 – 300: Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12961, Rheinart gửi thống đốc Nam Kì, Huế, ngày 19.09.1882 (05.08 Nhâm ngọ).

(154) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 269: Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12940, Rheinart gửi thống đốc Nam Kì, Huế, ngày 30.11.1881 (09.10 Tân tị, Tự Đức 34), xem thêm G. Taboulet…

(155) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 161 – 162.

(156) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 163 – 164.

(157) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 164.

(158) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 165 – 166, 170.

(159) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 165.

(160) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 167.

(161) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 172.

(162) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 163, 170, 174.

(163) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 171.

(164) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 145.

(165) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 271.

(166) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 171 – 172.

(167) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 172 – 173.

(168) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 173 – 174.

(169) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 173 – 174.

(170) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 174.

(171) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 175.

(172) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 174.

(173) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 175.

(174) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 175.

(175) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 175 – 176.

(176) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 168.

(177) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 176 – 177.

(178) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 159 – 160.

(179) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 178.

(180) ĐNLT., tập 4, Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1993, tr. 372.

(181) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 184 – 185.

(182) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 183.

(183) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 177.

(184) Bửu Kế, Chuyện triều Nguyễn (CTN.), Nxb. Thuận Hoá, 1990, tr. 82 – 83.

(185) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 177.

(186) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 394 – 396.

(187) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 395.


Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2])
.

TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 4
(phân đoạn 4, truyện kí 9)

Xin xem tiếp tệp 5
(phân đoạn 5, truyện kí 9)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”.

Saturday, December 17, 2005

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A 3)

Tệp 3 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 3 TRUYỆN KÍ THỨ 9)


TRẦN XUÂN AN

BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI


Truyện kí thứ chín
(phân đoạn 3)

8

Bọn Pháp ngày càng ngang ngược, tự tiện đi thăm dò các mỏ khoảng sản. Trong tháng giêng Nhâm ngọ (1882), “tàu nước Pháp đến cửa biển Lục Hải tỉnh Quảng Yên, tìm lấy than mỏ ở Hà Lầm” (75), “thuyền của hai phái viên nước Pháp đến Bình Định, Phú Yên khám đo cửa biển và vẽ đồ bản” (76) . Những tập tâu từ các tỉnh đệ gửi về Viện Cơ mật – Thương bạc, khiến hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường không khỏi bực bội. Bọn Pháp đang lộng hành, xem nước ta như chỗ không người, không chỉ ở Nam Kì, đã đành đoạn bởi “hoà” ước, mà còn ở Bắc Kì và cả Trung Kì!
Tháng hai nguyệt lịch, ngày đinh tị, trời đất bỗng tối sầm.
Nhật thực (77)!
Năm Tân tị (1881) vừa rồi, sao chổi nhiều lần mọc rồi lặn. Năm nay lại nhật thực! Bao người dân mê tín, không hiểu hiện tượng thiên nhiên, đâm ra hoang mang, lo lắng, và có cả sự mê tín ngược lại, sao chổi sẽ quét sạch bọn Pháp khỏi nước ta, và nhật thực là ý trời nhắc nhở lòng người lo giữ thiên lương.
Tháng hai này, ba linh mục Pháp lại sang “giảng đạo” ở một loạt tỉnh, từ nam tả kì đến Bắc Kì: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hoà, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nam Định (78)! Lại còn có cả “tàu thuỷ nước Xích Mao [:Hồng Mao: Anh] đến cửa biển Cầu Mông [:Cù Mông, tỉnh Khánh Hoà] dò xét, đo đạc, vẽ địa đồ” (79) !
Lãnh sự Y Pha Nho (Tây Ban Nha) tại Gia Định thuộc Pháp lại đệ thư tâu xin được tặng kim tiền có dây buông xuống (80), trong khi thương ước đã kí kết vẫn không tiến hành trong thực tế, khoản tiền “bồi thường chiến phí” ta đã điều đình, nhưng họ vẫn không trả lời. Phải chăng họ đề nghị được tặng kim tiền có dây buông, vốn là một thứ kỉ niệm chương dùng để tưởng thưởng, nhằm đối phó với ai đó? Nhưng lãnh sự Y Pha Nho ấy đâu phải lãnh sự quan hệ với triều đình Đại Nam! Bọn Pháp đang mua chuộc viên lãnh sự Y Pha Nho, đang giở trò ma mị gì đây?
Mối quan hệ Đại Nam và Xiêm La (Thái Lan), sau chuyến đi sứ của Nguyễn Hiệp (Nguyễn Trọng Biện) trước đây, vốn đã bị lãnh sự Pháp tại Xiêm gây khó dễ một cách vô lí. Ngay cả việc hoàng gia Xiêm muốn cử sứ sang nước ta đáp lễ, tướng Pháp ở Gia Định cũng ngăn trở. Viện – Bạc đã phải vin vào điều khoản III của “hoà” ước Giáp tuất, viết thư đấu tranh, biện thuyết với tên tướng Pháp ấy. Đến nay, cuối tháng hai Nhâm ngọ (1881) này, Xiêm La mới phải thuê chính tàu của Pháp chở phẩm vật sang đáp tạ (81)!
Thượng thư Nguyễn Văn Tường hơi yên tâm khi biết quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đang ra sức chỉ đạo huấn luyện biền binh, rất nhiệt thành trong việc tổ chức phòng thủ ở cửa biển Thuận An và các đồn từ cửa biển ấy ngược lên theo dòng sông Hương: Trấn Hải, Hoà Duân, Hạp Châu, Hy Du, Hải Trình, Lộ Châu, Thuỷ Tú, Triều Sơn… Trong đó, có cả việc xây dựng hải đăng, “đặt đèn hiệu ở địa phận hai xã Thuận Hoà, Quy Lai (thuộc Thừa Thiên) để cho thuyền quan quân đi đêm nhận nhớ đường đi” (82) .
Đó là những gì Tôn Thất Thuyết đang nỗ lực thực hiện trong khi Pháp đang mỗi lúc mỗi tăng thêm sự ngược ngạo!
Nhưng sự ngược ngạo của Pháp gây rúng động, phẫn nộ nhất không phải chỉ thế! Chúng đã quyết bộc lộ trắng trợn ý đồ xé bỏ “hoà” ước và thương ước Giáp tuất 1874!
Cũng thượng tuần tháng hai Nhâm ngọ (1882) ấy, “tướng nước Pháp phái tàu binh đến Bắc Kì, nói phao là để đuổi quân Lưu Vĩnh Phúc và bảo vệ việc thông thương. [Lãnh sự khâm phái nước ta tại Gia Định là] Nguyễn Lập, mật đem việc ấy tâu lên vua. Vua cho là phái viên nước Pháp muốn lấy Bắc Kì, chỉ mượn tiếng là để đuổi đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc, ý sâu xa thực không thể lường trước được; về [phía] ta cũng nên phòng bị trước. Vua sai mật sao tờ tư của Nguyễn Lập phát giao cho các tỉnh ([…]) đều biết” (83) .
Chiến thuật đối phó vẫn là phòng thủ theo kiểu hư binh, nhưng nếu cần, phải nổ súng: “Phàm việc cần phải làm cho khéo, chớ nên làm có thanh tích [thanh: tiếng tăm; tích: dấu vết]. Nếu có thể ngầm tiêu, lặng đổi được, cố nhiên là tốt. Nếu chúng dám ngang trái, việc đến nơi, bất đắc dĩ, cho đều tuỳ việc nên làm, để hết trách nhiệm giữ đất đai” (83) .
Mấy hôm sau, thượng thư Tôn Thất Thuyết với nét mặt rất căm giận, đến tìm gặp thượng thư Nguyễn Văn Tường tại công đường. Ngồi xuống ghế trường kỉ, nhấp một ngụm trà nóng, ông nói:
- Bọn Pháp quyết đánh ta! – Ông cau mày, lắc đầu, tỏ vẻ bực bội, uất ức và có chút gì ngán ngẩm –. Nhưng đức vua vẫn nhân nhượng việc chúng đòi hỏi là đuổi Lưu Vĩnh Phúc, nhằm “khỏi để cho chúng vin cớ để nói” (83) !
Một thoáng im lặng khá lâu, thượng thư Nguyễn Văn Tường cố giữ vẻ thật điềm tĩnh, chậm rãi đến án thư, lấy bản sao sắc dụ, trở về ngồi ở trường kỉ. Ông chỉ tay vào những dòng chữ và đọc:
- Chắc quan Bộ Binh đã đọc kĩ hơn tôi. Đây, ý nhà vua thế này: “Vả lại làm như thế, thông thuyết cho nước ấy rút lui yên ổn thì thôi. Nếu vượt qua [giới hạn], cố ý sinh sự, thì cho hai bên đều tự làm việc” (83) . Tôi biết, ý nhà vua muốn để bọn Pháp và quân Lưu Vĩnh Phúc đương đầu với nhau. Thật ra, đây là thế trận tôi rất tâm đắc, nhưng vận dụng thế này, rất áy náy cho Lưu Vĩnh Phúc… Nhưng từ rất lâu rồi, Lưu Vĩnh Phúc là “hiệp sĩ phi chính phủ, hành đạo trừ tà”, triều đình chỉ luôn luôn ngầm ủng hộ Lưu Vĩnh Phúc, nhất là khi cần thiết. Nhà vua cũng đã tham khảo ý Viện Cơ mật – Thương bạc, tôi cũng đành phải đồng ý như những dòng chữ này: “Về [phía] ta, chiểu địa phận tự giữ, không nên can thiệp, đợi khi việc đến nơi, sự thể thế nào, có nên làm thì sẽ làm. Nhưng đó cũng là việc bất đắc dĩ. Nếu làm cho hai bên đều bằng lòng ít việc thì hơn” (83) . Bởi lẽ, nhà vua vẫn muốn “dĩ hoà vi quý”, mặc dù “hoà” trong thế phải nhân nhượng!
- Nhưng “cây muốn lặng gió chẳng ngừng”!
- Tôi nghiên cứu hết Bắc sử (sử Trung Hoa), Nam sử (sử Đại Nam từ cổ đến kim)… Trong lịch sử nước Nam ta và lịch sử các nước lân bang quanh ta, đây là giai đoạn suy trầm đau xót nhất. Không phải nước ta phải đối phó với một nước, cho dù đó là nước đông dân, rộng đất nhất mà ta phải thường xuyên đối đầu là Trung Hoa. Mấy mươi năm nay, thật ra hàng trăm năm nay, các nước da trắng Âu Mỹ liên minh, cấu kết với nhau đi hiếp đáp, cướp bóc các lục địa Á, Phi, Mỹ và cả châu Úc (châu Đại Dương)… Chúng ganh ghét nhau, nhưng chia chác với nhau như một bầy chó sói trước bầy nai… Ta đánh được Pháp là khó, nhưng nếu Pháp bại, sẽ có thằng giặc khác nhảy vào, như Đức, Nga, Mỹ, chẳng hạn. Trong tình thế chung như vậy, chỉ có cách các nước Á, Phi, Nam Mỹ, các nước châu Úc liên minh lại để cùng giúp nhau canh tân, chế ra súng ống tối tân như bọn da trắng, luyện tập kĩ thuật quân sự hiện đại… Nhưng mọi cố gắng liên minh của ta, Pháp đều ngáng trở, phá tan, li gián! Canh tân lại cũng bị chúng ngăn chận. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –. Nhưng theo tôi, phải làm hết sức mình với nỗ lực cuối cùng, về ngoại giao, về canh tân, về quân binh, cho đến khi sức cùng lực kiệt, để hết trách nhiệm gìn giữ đất đai bờ cõi.
- Tôi cũng đang làm hết sức mình như quan Bộ Hộ vậy. Nhưng quả thật, đúng như quan Bộ Hộ nói hôm nọ, đường lối của đức vua, “hoà” hay chiến vẫn chưa xác định rõ! Và thật ra, thượng thư Trần Tiễn Thành vẫn đang giữ chức quản lí sự vụ Bộ Binh. Mặc dù tôi đã là thự thượng thư Bộ Binh, tôi vẫn phải xin ý kiến ông lão ấy. Hoá ra, bao năm nay, công việc Bộ Binh, về mọi mặt, rất đỗi trì đọng, lạc hậu, chỉ có một vài quân thứ ở Bắc Kì là khá!
Thượng thư Tôn Thất Thuyết cố dằn lại nỗi uất hận. Thật lòng, hơn lúc nào hết, ông thấy Trần Tiễn Thành đúng là một kẻ buông xuôi, đầu hàng từ lâu và đến nay vẫn tham quyền cố vị. Nhưng ông tự hiểu, chính ông cũng như thượng thư Nguyễn Văn Tường, đều phải nhẫn nại. Trần Tiễn Thành vẫn đang được nhà vua sủng ái, trọng dụng. Trần Tiễn Thành vẫn đang khuynh loát tất cả. Không nhẫn nại, cả ông lẫn thượng thư Nguyễn Văn Tường, kể cả thượng thư Phạm Thận Duật đều phải rời khỏi triều đình. Tâu hặc Trần Tiễn Thành là chuyện phải làm, nhưng đến lúc này thượng thư Tôn Thất Thuyết đang thu thập các bằng chứng, các bằng chứng cũng đã gần đủ. Hiện vẫn có nhiều người trong triều thần chống lại Trần Tiễn Thành, thậm chí nói ngay vào mặt, nhưng y vẫn lì lợm.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết lại nghe thượng thư Nguyễn Văn Tường nói.
- Chúng ta hãy làm hết tâm sức mình trong giới hạn nhà vua ban cho. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường rắn giọng –. Quan điểm của tôi từ bao năm nay vẫn là “Phải chiến đã, mới có thể hoà, hoà để thủ, thủ để mưu chiến. Như thế mới hợp cơ nghi” (84) . Không chiến đấu thì hoà có nghĩa là đầu hàng hoàn toàn. Phải chiến đấu để dẫu có hoà cũng không đến nỗi bị giặc ức hiếp quá đáng. Hoà như vậy là cầm cự để tăng cường phòng thủ. Canh tân công nghệ cũng là tạo lực lượng để phòng thủ. Phòng thủ với lực lượng quân binh ngày càng hùng hậu để rồi chờ thời cơ. Khi đủ thế lực và tạo được thời cơ, thời cơ xuất hiện, bấy giờ sẽ chiến đấu để giành lại hoàn toàn độc lập và trọn vẹn non sông Đất nước. Không chiến đấu thì bọn giặc Pháp không đời nào nhả ra miếng mồi ngon chúng đã ít nhiều ngoạm được. Ngay việc đàm cũng phải chiến. Không kháng chiến thì không thành công trong việc đàm phán.– Thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn từ tốn, điềm đạm nói –. Nhưng, lúc này, chúng ta hãy làm hết sức mình trong giới hạn nhà vua ban cho.
Nhấp thêm một ngụm nước, thượng thư Tôn Thất Thuyết gật đầu:
- Không còn cách nào khác, nếu không nỗ lực tối đa như vậy.
Lần trao đổi về tình hình cả nước, các lân bang và về nội bộ như thế vẫn thỉnh thoảng được diễn ra giữa hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết.

9

“Lúc bấy giờ, nước Pháp phái tàu binh đến Hà Nội, lòng người kinh hãi, náo động. Thống đốc Hoàng Tá Viêm xin chọn một viên đại thần có uy vọng đem [theo] lính kinh [đô, quân chủ lực], sung làm kinh lược đến đóng ở Sơn Tây, đốc sức quân Tĩnh biên khẩn cấp đánh giặc Khách để trấn áp” (85) .
Phải vừa đối phó với Pháp đang thực sự xâm lược, lại phải vừa đối phó với bọn giặc Tàu (giặc Khách) lâu nay được vỗ yên, nhưng rất có khả năng chúng lại thừa cơ ngóc đầu dậy!
Vua Tự Đức liền ra sắc dụ cho thái tử thái bảo, thượng thư Bộ Lại, sung đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Chính (Chánh) làm kinh lược sứ Bắc Kì, cùng kinh lược phó sứ là hữu tham tri Bộ Hộ, kiêm quản Viện Đô sát Bùi Ân Niên (Bùi Văn Dị, người Hà Nội). Hai vị ngay tức khắc nhận lệnh lên đường (85). Đó là ngày 20 tháng 02 năm Tự Đức thứ ba mươi lăm (1882) (86). Bản mật dụ gửi cho thống đốc Hoàng Tá Viêm cũng tương tự như lần mới đây nhất: “Vạn bất đắc dĩ phải điều quân vận lương [nghênh chiến], thì đều phải làm ngay, chớ để lỡ việc chút nào” (85) .
Về phía thực dân Pháp, cầm đầu bọn viễn chinh là Henry Rivière, một tên nhà văn khá nổi tiếng ở nước Pháp và cũng là một tên thực dân khét tiếng, với quân hàm đại tá. Vừa qua, y đã đàn áp một cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân đảo Tân Ca Lê Đô Ni (Tân Đảo). Henry Rivière lại có tài bẻm mép, vận động, thuyết phục được vua Norodom ở Cao Mên (Campuchia) giao cho y được độc quyền lập công ti nha phiến! Cuộc xâm lược Bắc Kì do Henry Rivière cầm đầu đã được chuẩn bị từ cuối năm ngoái, 1881. Ngày 03 tháng 04, năm 1882 này, y cùng tàu binh, quân viễn chinh ra đến Hà Nội. Henry Rivière muốn “qua đường Bắc Kì để vào Viện Hàn lâm Pháp” (87) , muốn thăng đến chức vụ thuỷ sư đô đốc. Hoá ra, lúc này, các nhà văn tại Pháp lại có kiểu tiến thân trên con đường văn chương một cách phi nhân văn, đầy tính chất thực dân tồi tệ đến vậy! Hoặc, đó chỉ là ý nghĩ, thủ đoạn của một thiểu số nhà văn thân chính quyền thực dân đang cầm quyền tại Pháp. Bọn cầm quyền này đang ra sức lũng đoạn Viện Hàn lâm, bằng cách dùng áp lực để đưa vào Viện Hàn lâm văn chương Pháp những tên bồi bút mạt hạng như Henry Rivière!
Henry Rivière đến Hà Nội với một đoàn quân Pháp viễn chinh, khiến con số từ một trăm (100), vốn đóng quanh Nha lãnh sự trước đó, đã vọt lên gấp năm lần (500).
Tên thực dân thống đốc Nam Kì Le Myre de Vilers, từ ngày 17.01.1882, đã gửi thư cho Henry Rivière:
“Anh bắt quan triều đình phải nhượng đất để đóng thêm đồn, kiểm soát cả Hồng Hà. Nếu họ không cho thì lấy càn, không phải đếm xỉa tới họ, khi anh thấy là cần thiết. Và tôi tin rằng họ không kháng nghị gì lắm đâu” (88).
“Đối với chúng ta, thì Cờ Đen là cướp. Anh phải đối phó với họ như đối phó với cướp, nếu họ ngăn trở anh. [Hãy] bắt chúng, gửi về Sài Gòn, tôi sẽ đày chúng đi [đảo] Côn Lôn” (88)
.
Tên bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp, Jauréguiberry, viết văn thư đệ gửi tên cầm đầu chính phủ Pháp, Freycinet, vào một tháng sau ngày Henry Rivière cùng tàu binh cập bến Hà Nội, mùng 04 tháng 03.1882:
“Để đạt mục đích, không cần phải chiến tranh, vì lẽ rằng, trước mặt chúng ta, không có một lực lượng nào có sức kháng cự lại” (89)!
Nguyên khâm phái lãnh sự Nguyễn Thành Ý, không thể cùng Nguyễn Trọng Hợp sang Pháp như kế hoạch Viện – Bạc vạch ra. Ông liền được chỉ dụ vào lại Gia Định với nhiệm vụ thương thuyết với tướng Pháp, Le Myre de Vilers. Ông đang nhận trách nhiệm trong tình huống sống mái này, khác nào đang thực hiện “nghĩa [vụ] giao làm con tin, hiến thân cho triều đình” (90) !
Ở Hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu, tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, bố chính sứ Sơn Tây Nguyễn Đình Nhuận mật bày kế sách phòng thủ: “Cho thượng du mạnh mẽ để giữ trung châu. Chúng [:Pháp] tiện ở đường sông, không tiện ở đường núi, thì chúng cũng biết là khó [thắng nổi ta] mà không dám động” (91) . Và Sơn Tây đã được xác định là địa điểm trọng yếu nhất. Kinh lược sứ Nguyễn Chính sẽ đến đóng tại đấy (91).
Thực dân Pháp không bỏ lỡ việc lợi dụng giáo dân Thiên Chúa giáo trong cuộc xâm lược Bắc Kì lần thứ hai này. Các tên thực dân cố đạo “tả đạo” cũng đã chuẩn bị phối hợp với Pháp:
“Tàu thuỷ nước Pháp (03 chiếc) bỏ neo ở phận biển Ni Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình). Lại có tàu thuỷ nhỏ đi đến nhà thờ [Thiên Chúa giáo], mượn thuyền của dân san chở đồ vật. Nhân dân sợ hãi” (92).
“Tháng ba, […] nước Pháp phái tàu binh đến thêm [ở] Hà Nội, và liền đến bỏ neo ở phận sông tỉnh Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình. Lòng người sợ hãi xôn xao” (93)
.
Các quan tỉnh lấy “hoà” ước, cứ xem như tín ước, để trách cứ quan binh Pháp. Nha Thương bạc ở Huế cũng trách cứ khâm sứ thực dân Rheinart. Y bảo: “Phải thản nhiên, mới khỏi hiềm khích” (93). Rheinart vờ vịt để bọn viễn chinh Pháp ở Bắc Kì dàn xong thế trận! Sau đó, y còn bảo: “Việc ở Hà Nội, sợ không thôi” (93), “lại muốn từ chức, về nước” (93) !
“Vua [Tự Đức] biết lòng độc ác của nước ấy đã lộ ra, thở dài nói rằng: “Việc ấy hai mặt đều khó. Không dự [tính] trước thì mắc mưu họ; dự [tính] trước mà không thích đáng cũng vô ích. Chỉ [trông] ở người hào kiệt, dự bị mà không lộ hình tích, [khi] động có việc, cũng đối phó được. Thế là tốt. Không nên lấy lời nói truyền đi [phao tin đồn, gây hoang mang]”” (93) .
Thật ra, lòng dân và cả quan đều đã rất hoang mang, xao động, và cũng không phải không có sự bình tĩnh đối phó. Hoàng Tá Viêm muốn đưa quân về Hà Nội (94). Trương Quang Đản muốn điều quân biên giới về Bắc Ninh (94). Phỉ Tàu rất có khả năng lại ngóc đầu dậy. Đến lúc này, quân Nguyễn Chính vẫn chưa kịp đến Sơn Tây (94)!
Các đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật, được vua Tự Đức triệu đến Điện Cần chính.
“Vua bảo các quan Viện Cơ mật và Thương bạc rằng:
“Bọn ngươi [đích] thân đảm đương việc ấy sẽ làm thế nào?”.
Tâu rằng:
“Vừa rồi, sai hai tỉnh Hà Nội, Hải Dương [ngoài việc quan quân đóng trong thành, lại đã chia ra,] uỷ quan đóng ở ngoài thành, cùng là một việc cần phòng giữ. Nay xin ở trong thì sửa sẵn binh đinh, súng đạn, khí giới; ở ngoài thì mật kết thân hào, đoàn kết con em. Lâm thời thì trong, ngoài giúp nhau, làm nhiều cách đánh lừa giặc. Còn như các việc ngăn lấp sông nên thôi, cho giặc khỏi ngờ mà mình chịu lỗi”.
Vua bảo rằng: “Chúng cậy tàu thuỷ làm tính mạng. Các tỉnh nếu đều mật dự ổn thoả cả, nếu chúng có làm bậy ở một tỉnh, thì ở đường sông tàu của chúng thường đến, [nên phải] chọn chỗ nông hẹp đem lấp ngay, thì trong, ngoài không thông được với nhau, chúng chẳng bị khốn [là gì], còn đợi gì! Duy làm việc ấy cốt ở người [kín đáo, biết giữ bí mật], cốt hợp thời nghi mà thôi, không nên vội vàng lầm lỡ”.
Nhân sai lục sức [:truyền thông] cho các tỉnh biết” (95)
.
Viện – Bạc lại bàn cách lấp sông theo hình ngũ điểm, “hình nanh sấu” (96) :

ª ª ª ª ª ª ª ª ª
+ ª ª ª ª ª ª ª ª +
ª ª ª ª ª ª ª ª ª

Đá vốn lâu nay chứa sẵn ở thuyền, nay đục thuyền, cho thuyền chìm xuống theo hình ngũ điểm ấy, để khỏi gây úng lụt và không trở ngại cho thuyền ghe vận tải, đi lại cỡ nhỏ của dân.
Lập tức, tăng cường ngựa trạm ở các cung đường (97).
Thượng thư Bộ Hộ tâu xin cho lính kinh đô (chủ lực) được lãnh trước nửa tháng lương (98). Đó cũng là một cách động viên, chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Thượng thư Tôn Thất Thuyết tâu xin rút hai ngàn bốn trăm bộ binh (2.400 lính đánh trên đất liền), vốn đang làm việc ở các nơi về Huế, tuyển chọn quan võ để huấn luyện họ thêm, trên các vùng đất phía tây nam kinh thành vốn được sử dụng làm thao trường (99)… Thượng thư Bộ Lại tuân chỉ bổ nhiệm mười người Nam Kì ra vùng tị địa tại Bình Thuận theo lời tâu của điển nông sứ Khánh Hoà Phan Trung (100)…

10

Bọn Pháp viễn chinh cùng tàu chiến của chúng lại tiếp tục đến thêm, cập bến ở Cơ Xá (Hà Nội) (101). Chúng hằng ngày ra sức khiêu khích quân và dân ta. Những tên sĩ quan phái viên Pháp cũng hằng ngày dẫn quân của chúng, có trang bị khí giới, diễu qua diễu về, đi lại ở ngoài thành luỹ, nói phao lên là hẹn ngày vào đóng trong thành một cách ngạo mạn (101).
Tổng đốc Hoàng Diệu, người Quảng Nam. Ông nỗ lực tổ chức, bố trí phòng bị nghiêm ngặt. Những tên phái viên Pháp nằng nặc đòi triệt bỏ các điểm đặt súng phòng thủ. Tất nhiên, tổng đốc Hoàng Diệu không đời nào nghe theo yêu cầu của bọn chúng. Ông cứ điềm tĩnh động viên quan quân chuẩn bị chiến đấu.
Mùng tám tháng ba nguyệt lịch, năm Tự Đức thứ ba mươi lăm, Nhâm ngọ (25.04.1882), Henry Rivière gửi tối hậu thư đến tổng đốc Hoàng Diệu với những lời lẽ, điều kiện xấc xược:
“Tôi đề nghị ông giao thành, theo những điều kiện mà tôi nói ngay đây. Ngay ngày hôm nay, ngay sau khi tiếp được thư này thì ông phải ra lệnh cho quân đội ông rời khỏi thành, sau khi đã hạ hết khí giới và mở cửa thành. Để làm cho bản chức [là tôi] tin rằng ông thi hành những điều tôi đòi hỏi, thì ông phải nạp mình cho tôi. Cả các ông tuần phủ, quan bố [chính], quan án [sát], đề đốc, chánh lãnh binh và phó lãnh binh đều phải đến nạp mình ở dinh bản chức đúng 08 giờ sáng” (102) .
Tổng đốc Hoàng Diệu liền uỷ nhiệm án sát sứ Tôn Thất Bá ra ngoài thành thương thuyết, nhằm hoãn binh. Tôn Thất Bá vừa ra khỏi thành, quân Pháp liền nổ súng tấn công ngay (101).
Tổng đốc Hoàng Diệu cùng tuần phủ Hoàng Hữu Xứng (người Quảng Trị) chia đường đốc thúc quân sĩ chống lại những đợt tấn công với hoả lực rất mạnh, có sức công phá dữ dội của thực dân Pháp. Ba chiếc chiến hạm của Pháp nã súng đại bác liên tục. Quân ta vẫn kiên cường chiến đấu. Cuộc chiến đấu diễn ra rất lâu. Phía Pháp, có nhiều tên bị bắn chết hoặc bị thương. Phía quân ta, cũng ngã xuống một số quân. Những người lính Đại Nam yêu nước ấy đã dũng cảm hi sinh, bị tử trận hoặc bị thương tích (101).
Bỗng dưng, kho thuốc súng bị công phá, bùng nổ, cháy rực một góc thành (101). Quân ta không khỏi bị rối loạn hàng ngũ chiến đấu. Bấy giờ, Henry Rivière mới trực tiếp ra trận. Y chỉ ra trận khi đã nắm chắc phần thắng và ít còn khả năng bị trúng đạn! Henry Rivière dương quân ở cửa đông nhưng thực ra y đánh mạnh vào cửa bắc. Bọn viễn chinh Pháp đã chuẩn bị sẵn bốn mươi chiếc thang, bắc vào thành, leo lên, vượt thành vào bên trong. “Trong thành, quân ta [vẫn] bắn trả. Nhân dân tự thiêu huỷ các phố nhà lá, nhà gỗ thành một bức tường lửa, ngăn cản sự tiến binh của địch và buộc địch mấy lần phải dời ổ đại bác. Nhưng lửa cháy không được lâu. Tường lửa hạ xuống. Quân địch băng qua chiến hào đầy nước và bùn” (103) .
Thành bị mất, sau khoảng tám tiếng đồng hồ quyết tử (từ giờ mão [05 – 07 giờ] đến giờ mùi [13 – 15 giờ]).
Tổng đốc Hoàng Diệu đi lẫn vào đám quân hỗn loạn, đến tại hành cung, nơi nhà vua khi tuần du ra Bắc thường ngự giá tại đấy, xem đó như biểu trưng của hoàng đế. Ông rơi nước mắt, bái tạ, và nói: “Sức thần đã hết rồi” (104) . Sau đó ông đi thẳng đến Đền Quan Công, biểu tượng của lòng trung nghĩa, ở góc tây bắc, phía trong thành, tự thắt cổ dưới gốc cây to để biểu lộ khí tiết và theo đúng quân luật nhà Nguyễn. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết lúc đang tuổi năm mươi tư!
Trong khi đó, đề đốc Lê Văn Trinh, bố chính Phan Văn Tuyển, lãnh binh quan Lê Trực, hai phó lãnh binh quan Hồ Văn Phong và Nguyễn Đình Đường đều chạy thoát ra khỏi thành (101).
Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng vẫn đi tìm hỏi tổng đốc Hoàng Diệu. Không ai biết tổng đốc ở đâu. Ông vào thềm bên phía trái hành cung, bỗng tên sĩ quan Pháp xuất hiện với quân lính của y. Y ra lệnh bắt Hoàng Hữu Xứng.
“Phái viên nước Pháp muốn lấy lễ độ dụ [Hoàng Hữu] Xứng. [Hoàng Hữu] Xứng không chịu khuất phục, chửi mắng hắn. [Ông] cũng không bị giết. Rồi [hắn] sai đem [Hoàng Hữu] Xứng về Dinh Tuần phủ cũ giam lại.
Sau rồi phái viên nước Pháp đón [Tôn Thất] Bá về, giao tỉnh thành cho. [Trước đó,] [Tôn Thất] Bá chạy đến xã Nhân Mục [ngoài thành cổ Hà Nội]. [Lúc này, Tôn Thất] Bá vào thành cùng [bàn] với [Hoàng Hữu] Xứng. [Hoàng Hữu] Xứng có bàn tạm nhận” (101).
Đó là kể vắn tắt. Sự thể nhận thành vốn diễn ra thế này:
“Lúc ấy, [Hoàng Hữu] Xứng đã nhịn ăn [:tuyệt thực] thành ốm. [Tôn Thất] Bá mời [ông] vào [thành], [Hoàng Hữu] Xứng lại [từ] chối ngay. [Tôn Thất] Bá hai lần khóc, nói sự lợi, hại. [Hoàng Hữu] Xứng lại nghĩ, không tạm nhận [thành], sợ [tình hình] thêm khó [ra], nhân [thế] cũng gượng dậy, nghe theo. Nhưng [ông lại] bàn [chỉ] do [Tôn Thất] Bá nhận một mình, mà [ông cũng] cùng kí tên, [thông] tư cho Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Chính [:Chánh] cùng các tỉnh láng giềng: Xem [tình] thế có thể thừa cơ được, nên làm [:đánh] ngay thì làm [:đánh], chớ lấy [việc] nhận thành làm ngại. Và [hai quan tuần vũ, án sát Hà Nội] đem việc [nhận thành] ấy nhận tội, tâu lên [:tâu vào kinh đô].
Nhưng quân Pháp [mặc dù nói là trả thành, chúng] vẫn đóng giữ ở hành cung [trong thành]” (101).
Chúng “lại phá cửa thành, vận tải súng đạn, khí giới…” (105)
.
Henry Rivière hí hửng khi biết tổng đốc Hoàng Diệu đã tuẫn tiết. Y liền phúc trình vào cho Le Myre de Vilers:
“Sáng 20.04 [1882, chính xác là 25.04.1882], chúng tôi được tin ông tổng đốc thắt cổ. Ông ấy là người bình tĩnh và kiên quyết. Nay ông chết là lợi cho ta lắm. Cái can đảm và cái ảnh hưởng của ông, nếu ông sống, chắc hẳn là gây nhiều rắc rối cho ta, nhất là nếu ông liên kết với Hoàng Tá Viêm ở Sơn Tây” (106) .
Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, lúc đã cam đành phải nhận lại thành, ông không thể không nghĩ ngợi. Bằng bao nhiêu nếm trải thực tiễn và học tập từ sách vở, huấn dụ, ông biết, triều Nguyễn vốn có một khoản quân luật rất nghiêm là phạt rất nặng những quan, những tướng để mất thành, bị thất trận, và khen thưởng rất trọng cho những ai tử tiết. Do đó, hầu như phải tự sát, nếu tướng, quan nào rơi vào trường hợp ấy. Điều đó buộc tướng và quan phải có tinh thần trách nhiệm cao độ, phải thể hiện khí tiết. Tuy nhiên, mặt hạn chế cần nhận ra: Nhiều tướng cũng như quan có tài năng lớn, trong thế yếu, thất cơ, hoặc bị nội ứng, là phải tự sát. Các tướng và quan cỡ ấy lại khó tìm được người để thay thế! Do đó, trong điều kiện vũ khí quân đội triều đình nhà Nguyễn quá lạc hậu, tướng tài, quan giỏi lắm khi phải tử tiết một cách khá oan uổng. Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng lại nghĩ: Bản triều nhà Nguyễn đã nhiều lần từng nghị xử những trường hợp thất trận, mất thành, và đều nghị xử thật cẩn trọng từng trường hợp một, không phải trường hợp tự sát vì thất trận, để mất thành nào cũng được đề cao, thậm chí lại còn kết án, truy đoạt chức hàm. Tuy nhiên, vì mặt tích cực kia (trách nhiệm cao, khí tiết lớn), nên bản triều nhà Nguyễn hẳn vẫn tôn vinh những tấm gương tuẫn tiết như Hoàng Diệu.
Ông cảm thấy tự mình đã đủ dũng khí để chửi vào mặt giặc, đã chấp nhận cái chết tuyệt thực để giữ khí tiết như quan Vũ hiển điện đại học sĩ Nguyễn Tri Phương, cũng tại thành Hà Nội này, chín năm về trước. Nhưng chỉ một phút yếu lòng trước lời bàn bạc của án sát Tôn Thất Bá, ông đã viết thông tư cho thống đốc Hoàng Tá viêm cùng các quan tỉnh khác, đồng thời viết tập tâu nhận tội, đệ gửi vào triều đình. Mặc dù trong các bức thư, ông đều có viết, “xem [tình] thế có thể thừa cơ được, nên làm [:đánh] ngay thì làm [:đánh], chớ lấy [việc] nhận thành làm ngại” (101) , các bức thư và tập tâu ấy ít nhiều cũng tạo nên ảo tưởng Pháp sẽ lại tiến hành như hồi năm Quý dậu (1873)?!? Do đó, sĩ khí và việc phòng thủ, phản công có phần vơi bớt chăng?!? Phải chăng, như người ta nói, Tôn Thất Bá đã bị thuyết phục bởi những tên phái viên Pháp, lúc Tôn Thất Bá chạy đến trú tại xã Nhân Mục? Ông không rõ, không có bằng cớ nào để buộc tội như vậy. Phải chăng Tôn Thất Bá sợ chết, nên bị Pháp dụ dỗ, và y đã thông đồng với Pháp, chạy ra ngoài thành trước khi Pháp tấn công? Và phải chăng quả thực Pháp đã đợi đến lúc Tôn Thất Bá ra khỏi thành rồi, chúng mới nổ súng? Đúng là xưa nay, những kẻ thông đồng với giặc khi giặc tấn công thành trì, đều cố tìm cách chạy ra khỏi thành trước phút chúng tấn công, vì tên bay đạn lạc, lúc giặc tấn công, làm sao tránh được! Hay Tôn Thất Bá đã tự nguyện xin tổng đốc Hoàng Diệu ra khỏi thành để thương thuyết với giặc, rồi thoát thân trước khi bọn Pháp nã đại bác tấn công? Không rõ. Hoàn toàn không rõ. Hoàn toàn không có bằng chứng nào ngoài việc ấy. “[Tổng đốc Hoàng] Diệu uỷ án sát Tôn Thất Bá ra ngoài thành để thương thuyết” (101) kia mà! Nhưng ông tự hỏi, tại sao ông xiêu lòng, khi Tôn Thất Bá hết lời năn nỉ? Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng cảm thấy vô cùng hối hận trong những ngày nhận lại thành Hà Nội từ tay giặc Pháp.
Khoảng gần hai tháng sau, vào đầu tháng năm Nam lịch, tuần vũ Hoàng Hữu Xứng cùng các quan tỉnh Hà Nội nhận được sắc dụ của vua Tự Đức trong nỗi chua xót xen lẫn niềm ăn năn, xấu hổ. Tuy nhiên, trong số quan văn, võ Hà Nội ấy, tuần vũ Hoàng Hữu Xứng vẫn chói sáng lên trong chừng mức nhất định một nhân cách kẻ sĩ, một vị quan yêu nước và đủ dũng cảm để bày tỏ khí tiết. Còn sự thật về Tôn Thất Bá và các quan khác trong sự biến thất thủ thành Hà Nội lần thứ hai này?
“Dụ rằng: Vừa rồi Hà Thành có việc, Hoàng Diệu quyết chí cố giữ, thà chết không hai lòng. Các quan chính nên cố sức làm việc đến chết, mới hợp nghĩa hiến thân cho nước. Thế mà hết lòng trung chết vì tiết nghĩa, chỉ có một mình Hoàng Diệu. Bọn [quan võ] Lê Văn Trinh [, Hồ Như Phong, Nguyễn Đình Đường, Lê Trực] đều là quan to một tỉnh, sợ chết, tham sống, bỏ thành chạy trốn. Phan Văn Tuyển lại trốn trước, đến Sơn Tây, thì hèn nhát, không tài quá lắm. Hoàng Hữu Xứng tuy không ra khỏi thành nhưng không biết sống thác với thành. Tôn Thất Bá ra ngoài thành thương thuyết lại cùng với chúng dần dà trốn khéo. Quan giữ đất đai, gặp khi hoạn nạn, há nên như thế! [Tất cả] đều phải [bị] cách chức trước, trói giải ngay về kinh, [để được] xét rõ, tâu lên” (107) .
Đến tháng tư nguyệt lịch năm Quý mùi (1883), triều đình “truy tặng hàm phó quản cơ cho suất đội Hà Nội là Đỗ Đăng Lân (ấm thụ cho con hoặc em hay cháu một người làm chánh cửu phẩm bách hộ). Vì khi Hà Thành thất thủ, [Đỗ Đăng] Lân bị người Pháp giết chết, cho nên truy tặng hàm ấy” (108) .
Hà Nội thất thủ lần thứ hai! Nỗi đau và niềm bi tráng!
Rút kinh nghiệm “tự lật tẩy” của một vạn hai (12.000) “lính bản xứ” phản quốc lần trước, lần này, chỉ có năm mươi (50) khẩu súng Henry Rivière trao cho cố đạo giám mục Puginier, một tên thực dân cáo già khoác áo tu sĩ (109)! Người ta không hiểu vì sao tên cố đạo cáo già thực dân này không bị nhân dân chấp nhận “mạng đổi mạng” hoặc ám sát, nếu không biết rằng y được giáo dân và thực dân Pháp bảo vệ như thế nào!
Hà Nội, nỗi đau thất thủ lần thứ hai, đau đớn nhưng không nhục nhã và đốn mạt như lần trước, bởi lần này hầu như vắng bóng những tên nhục nhã và đốn mạt như 12.000 tên vô lại phản quốc, hầu hết đã bán linh hồn cho “tả đạo”, mang chiêu bài “phù Lê” dạo ấy!

11

Thự thượng thư Bộ Binh kiêm hải phòng sứ kinh kì Tôn Thất Thuyết tuy không được dự chính thức các cuộc họp của Viện Cơ mật – Thương bạc, nhưng với chức trách nắm giữ toàn bộ binh quyền trong tay, ông vẫn tham dự các cuộc họp Viện – Bạc những khi cần thiết, được triệu mời. Trong các buổi thiết triều, cứ ngày cách ngày, ông có dịp tấu trình trước đình thần và nhà vua. Trong các cuộc đình nghị, tiếng nói của thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết vẫn thường cất lên.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết đã có hai người đồng chí chủ chiến trong Viện Cơ mật – Thương bạc, đó là Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật.
Tôn Thất Thuyết thường đến gặp hai vị thượng thư kiêm sung đại thần Viện – Bạc ấy để bàn bạc việc quân cơ và các vấn đề khác trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng này.
Ở công đường Bộ Hộ, vẫn ngồi đối diện trước bàn nước, trên hai chiếc trường kỉ, ba đại thần có chung một thời trận mạc tiễu phỉ ở phía bắc thường đàm luận với nhau. Những ý kiến chỉ đạo cũng thường nảy sinh ở đó.
Vẫn là nước trà thơm bốc khói trong ba chiếc chén màu lam Huế, đặt trước mặt ba người, nhưng lúc này là ban đêm, tiếng trống canh một đã điểm từ lâu, bóng tối đêm đầu hạ đã khoả kín, tiếng ve sầu đã thôi trỗi lên, lan toả trong gió.
- Tình hình Bắc Kì, nhất là Hà Nội, thật chua xót quá sức! Súng đạn của bọn Pháp chiến thắng Hà Nội, chứ thật ra, làm sao lần nào cũng thất thủ nhanh đến thế! – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –.
- Kinh lược sứ Nguyễn Chính đã được sắc dụ điều động về Mỹ Đức hoặc Nho Quan rồi (110). Và sắc dụ phòng thủ bí mật đã ban ra khắp cả nước (111). Quan hiệp biện hưu trí Trần Đình Túc cũng đã ra Hà Nội làm khâm sai đại thần, phối hợp với tĩnh biên phó sứ Nguyễn Hữu Độ, vừa được chỉ sung làm kinh lược phó sứ, để nhận lại thành Hà Nội (112). Tiếp đến, Hoàng Hữu Thường, Vũ Nhự cũng đã ra Bắc để giúp sức (112). Ta đang chờ diễn biến mới đoán định rõ… Có phải như thế? – Thượng thư Phạm Thận Duật nói –.
Thượng thư Tôn Thất Thuyết đăm chiêu. Ông nói:
- Hôm đình nghị vừa rồi, ai cũng bảo chính tên Rheinart và bọn Suý phủ Pháp giảo quyệt, vờ nói trả thành, nhưng chúng vẫn đóng giữ ở hành cung trong thành một cách phạm thượng! Đoàn khâm sai lần này không khéo mắc mưu bọn chúng! Chỉ là do chúng ta thực lực chưa chuẩn bị kịp!
- “Thống đốc Hoàng Tá Viêm, kinh lược Nguyễn Chính, Bùi Ân Niên dâng sớ xin đánh” (113) . Đây là những dòng chữ trong tập tâu của ba quan viên ấy. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lấy các bản sao từ ống đựng công văn ra –. “… Liền đánh phá, liền giao trả lại” (113) , bọn Pháp “lại tuyên ngôn: Chỗ nào phòng bị, chúng tất gây chuyện! Khinh nhờn đến thế, ai không đau lòng” (113) ! Bọn Pháp “cứ mười năm đổi [“hoà”] ước một lần. Mỗi khi đến kì định ước thì chúng đem quân để doạ, phá thành trả thành; chẳng qua doạ bằng oai để thoả lòng mong muốn. Xem ý nước ấy [:Pháp] [yêu sách] đặt thêm thương cục ở Vị Giang tỉnh Nam Định và Bạch Hạc ở Sơn Tây, khiến cho ta không thi thố gì được. Các tỉnh hèn nhát thuận theo, thì [chúng] lấy như giở bàn tay. [Tỉnh nào] hơi có phòng giữ nghiêm chỉnh thì [chúng] cố sức đánh. [Bọn Pháp] không lấy được cả toàn hạt Bắc Kì không thôi, ý ấy [của chúng] đã lộ ra tất cả. Nếu dùng dằng ở chỗ ấy, cũng được tạm thời yên; chỉ sợ dầm ngấm vào mưu chúng, lại để vua phải lo nghĩ mà thôi. Bọn tôi xét kĩ tình thế, nên đánh một trận rồi mới hoà, hoạ là có thể ngăn được lòng tham của chúng… […] … Nếu mọi việc [chúng] chỉ giữ trịch thượng, bọn tôi nhờ uy đức của nhà vua, cổ động quân dân, người giữ thì hết sức giữ vững, người đánh thì chia đường hợp sức cùng đánh. Cốt giết hết tất cả để rửa thẹn trước” (113) . – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nói –. Và đây là châu phê của nhà vua: “Sao lúc mới nghe Hà Thành có việc, [các ngươi] không vây ngay mà đánh, cho [chúng] biết bó tay. Nay [chúng] đã giao trả, [ta] đánh, tất [chúng] đổ lỗi cho ta, lại ngăn trở cơ hội không sớm được yên. Và đánh, tất phải dùng quân họ Lưu [Vĩnh Phúc], càng thêm cho chúng giận, khó giảng giải. Huống chi chúng vốn hay tức giận, chỉ mượn uy doạ nạt cầu cho được việc. Nay nếu bức bách, sợ chúng phát làm bậy, [thì ta muốn] giữ, [cũng] không giữ được. Nay hãy sửa sang thanh thế, xem chúng có cầu [:yêu sách] quá đáng hay không. Việc [buộc chúng] bồi thường [thành Hà Nội] được vừa phải thì thôi [:ngừng chiến]. Không thì đem quân mà đánh. Đến thế là chúng tự làm ra, khó nói gượng để gỡ trách nhiệm được” (113) . Trần Đình Túc và gã Nguyễn Hữu Độ cũng đều tâu nói “hai mang” [:nước đôi] như vậy! Tôi đã đọc nhiều tập tâu của quan tỉnh, quan quân thứ và các châu phê của nhà vua, rốt lại là thế!
- Chiến hay “hoà” vẫn không dứt khoát, không xác định rõ ràng gì cả! Đúng như chữ nhà vua dùng, đều là “hai mang” [:nước đôi] . – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. “Đình thần xin theo [ý quyết đánh] chuẩn cho làm ngay [:đánh ngay], Các thần xin cả nước đánh ồ ạt” (114) . Đình thần là chúng ta đây, Các thần là các quan Nội các, tất cả đều quyết tâm đánh. Nhưng quyết định cuối cùng không phải là ai khác… – Thượng thư Tôn Thất Thuyết muốn nói đến vua Tự Đức, mà kẻ được vua tin cậy nhất, đó là Trần Tiễn Thành, dù ông ta đã bị kèm chặt bởi hai thượng thư chủ chiến là Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật –.
Ngẫm nghĩ, hết sức dè dặt, thượng thư Nguyễn Văn Tường nói:
- Thật ra, tôi hiểu ý nhà vua, nếu đánh hẳn sẽ khó giữ được toàn vẹn. Nhà vua có thể đã có chủ định sẽ nhân nhượng thêm. Quan Thương bạc Nguyễn Trọng Hợp đã được tên khâm sứ Rheinart đề nghị một phụ ước “bảo hộ” (115), như ở Tunysie, cho “hoà” ước Giáp tuất 1874… Nhưng nhà vua không chịu. Tôi và tất cả chúng ta đây không đời nào chịu. Ta càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới! Chiến đã, mới có thể hoà. Nói như thống đốc Hoàng Tá Viêm mới đây, phải đánh cho chúng nhụt bớt cuồng vọng, mới “hoà” được, nếu ở thế yếu, buộc phải cắn răng chịu “hoà”! – Ngừng lại, thượng thư Nguyễn Văn Tường nói tiếp –. Theo ý tôi, tôi đã và đang ra sức vận động Trung Hoa, để họ đưa quân sang. Khi quân Trung Hoa nhà Thanh sang rồi, ta quyết chiến mới vững chắc thế trận hơn. Hai vị nghĩ như thế nào?
- Sợ có muộn lắm không? – Thượng thư Phạm Thận Duật nói –.
- Tất nhiên ta phải tự lo là chính. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường đáp –. Nhưng nếu có quân Thanh yểm trợ, sẽ vững hơn. Cực lòng mới vậy! Quân Thanh sang nước ta, cũng rắc rối và khổ dân lắm. Nhưng nói chung, không có cái gì thật sự hoàn hảo, được cái này, mất cái kia. Tình thế vậy, tương quan lực lượng vậy, thì được cái lớn, mất cái bé, cũng đành tạm thời chịu vậy. Quân Thanh gây rắc rối và khổ dân, đó là cái bé phải đau lòng chấp nhận, nhưng ta được sự yểm trợ mạnh, cũng yên tâm. Bất đắc dĩ phải nhờ cậy như thế… Tôi cũng đã nghĩ đến thế trận “đối trọng, trung lập” sau đó. Tình huống thế, thì phải thế.
Ba vị đại thần suy nghĩ.
Một lát, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại hỏi:
- Nhà vua đã có chiếu chỉ triệu Ông Ích Khiêm ra kinh đô (116). Tôi đã hứa với ông ấy, sẽ cùng ông ấy làm việc ở Bộ Hộ. Đó là một cách tăng cường thêm những người tâm huyết. Không biết lần này ông ấy có phạm lỗi nữa không… Tôi cũng rất mừng khi quan thượng thư Bộ Binh đây đã tăng cường phòng thủ, mặc cho tên Rheinart một, hai đòi ta phải buông xuôi…
- Ở Bộ Binh, phải đấu tranh với quan lớn Trần Tiễn Thành rất gay gắt mới được thế. – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Phòng thủ theo chiến thuật hư binh cũng phải phòng thủ, chứ đâu phải là buông xuôi, “xuôi tay cho mệ [:cọp] nuốt”! Tôi vẫn rất tâm đắc tập tâu của Lâm Hoành, trong đó có câu: “Vả lại lo ở [:về nạn] nước ngoài đến nay, đã hơn hai mươi (20) năm, [nói theo thành ngữ], “việc phòng bị trước khi mưa [:giặc đến]”, vẫn còn sơ sài. Chức vụ ở đâu? Không nghiêm trị bằng quân luật, sợ sau này không răn chừa, việc quân việc nước còn ra sao?” (117) .
Trong những tháng ngày này, tên khâm sứ Rheinart cũng hết sức xấc láo. “Khâm sứ đóng ở kinh là Rheinart đưa thư nói việc phòng bị cửa biển Thuận An, lời nói rất ngang ngược, khinh nhờn” (118). “Vua bảo rằng: “Chúng nói và làm như thế, làm sao tin được! Phòng bị là việc thường của người có [Đất] nước. Đâu có thể bắt người chịu bó tay, không làm gì mới thoả lòng ư? Không trách phàm việc phòng bị của các tỉnh, chúng đều muốn triệt bỏ đi, thì khiến cho người làm thế nào được? Hầu đem một chữ “hoà” trước sau đánh lừa ta chăng?” (118) . Tất cả đình thần đều biết sự thể đó. Cuộc đình nghị đã diễn ra rất gay gắt. Nhưng Trần Tiễn Thành và một vài quan tham biện, tư vụ cùng quan Nha Thương bạc vẫn tâu xin “bãi bỏ việc đắp luỹ, thêm quân ở cửa biển Thuận An” (119) để tránh lời de doạ chiến tranh từ ý đồ thâm độc của Pháp và tên khâm sứ Rheinart. Tập tâu này chính Trần Tiễn Thành đứng tên (119), chứ Nguyễn Văn Tường và Phạm Thận Duật không đồng ý đề hai chữ “Viện – Bạc” như các tập tâu khác vốn đạt được sự nhất trí cao. Dẫu vậy, Trần Tiễn Thành vẫn được nhà vua nghe theo. Sự rạn nứt nghiêm trọng trong Viện – Bạc ngày càng rõ, nhưng hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật vẫn cố kìm giữ, vừa đấu tranh vừa phải nhẫn nại. Phạm Thận Duật bận công việc biên tập “Việt sử cương mục” , giảng tập ở Dục Đức đường, kiêm quản Quốc tử giám (120), quá đỗi bận bịu, nhân đấy, ông đã viết tập tâu từ chức khéo, bằng cách xin nhường chức cho Tôn Thất Thuyết, mặc dù Nguyễn Chính đã ra Bắc Kì, cơ chế tạm gọi là tứ trụ, bốn đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, đang khuyết một người. Cùng với Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường nhẫn nại nói nước đôi trong việc đề cử Tôn Thất Thuyết, vì tránh trường hợp sẽ bị chính nhà vua và Trần Tiễn Thành phản ứng. Thượng thư Nguyễn Văn Tường tự xác định, ông cần phải thật cẩn trọng, khôn khéo, mềm dẻo, nhưng vẫn cương quyết theo đuổi chính kiến “chiến – hoà – thủ – chiến” từ lâu ông đã tâm niệm.
Với sự cẩn trọng như vậy, Bộ Hộ vẫn bị xới việc, những việc không ra gì nhưng phiền lòng!
Trong những ngày dầu sôi lửa bỏng này, Bộ Hộ do thượng thư Nguyễn Văn Tường đảm trách lại bị xới lên một vài việc đã cũ. Vụ việc lại dính líu đến Bùi Ân Niên. “Quyền hữu tham tri Bộ Lại là Bùi Ân Niên được đổi bổ thự hữu tham tri Bộ Hộ, nhưng vẫn làm quản Thương bạc sự vụ đại thần” (121), hồi tháng ba nguyệt lịch năm Tân tị (1881). Và không những dính líu đến Bùi Ân Niên, còn liên quan đến một hai vị quan khác ở Bộ Hộ. Nhưng dẫu sao, thượng thư Nguyễn Văn Tường vẫn chịu trách nhiệm chính vì những sai sót của thuộc viên. “Trước đây tuần phủ Nam – Ngãi là Trần Nhượng đem việc Bộ Hộ làm không hợp tâu lên” (122), “quan ở Bộ Lại đem việc Xuân Điền kêu xin, tâu xin giúp cho, trước sau bất nhất, việc thuộc thiên tư [:thiên vị] và nhàm…”, cùng hai khoản khác vốn không có gì nghiêm trọng nhưng lôi thôi, rắc rối. “Quan ở Bộ [Hộ] dâng sớ biện bạch: Cho là Xuân Điền chở tiền, trước xin là ngăn mầm gian, sau xin cho là vì công khoá… […] … Số chi tiêu của tỉnh ấy không nói rõ năm tháng, hoặc biên lẫn khó xét, cho nên [Bộ] bác đi… […] …” (122). “Vua cho là một việc chở tiền, đã xin cấm, lại xin cho, trước sau bất nhất, quan ở Bộ không đổ lỗi được. Còn như tiền thuế, quan tỉnh không [tuân] theo [mà] đem thu, cũng là đùn đẩy, đều phải giáng cấp, lưu dụng” (122) . Thật ra, những phiền phức nhỏ ấy, trong công tác, không thể không xảy ra. Người phạm lỗi đã được chỉ ra cụ thể, nhưng vẫn thấy không khỏi phải chú tâm giải quyết thật minh bạch. Nay Bùi Ân Niên lại đang làm phó kinh lược sứ ở Bắc Kì, ngày đêm lo đối đầu với Pháp và phỉ Tàu…
Thượng thư Nguyễn Văn Tường mỉm cười, vẫn nụ cười điềm tĩnh. Ông trở lại với mạch chuyện nghiêm trọng về tình hình Bắc Kì đang bỏ dở.
- Tôi cũng mừng là tình hình lương – giáo không nổi lên như hồi năm Quý dậu (1873). – Thượng thư Tôn Thất Thuyết nói –. Tuy vậy, nhà vua cũng mới “mật dụ cho các quan tỉnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh Hoá và Nghệ An, hiểu bảo và cấm trấp dân lương, dân giáo cho đều cùng yên” (123) . May là có “mười ba tên là dân hai xã Phú Thứ, Thôi Ngôi tỉnh Nam Định bỏ đạo theo về nghiệp nho” (124) .
- Con số thật quá ít ỏi. Nhưng cũng đáng mừng. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nói –.
- Còn việc tổng đốc Hải – Yên Lê Điều, người thay Phạm Phú Thứ, vừa xử chém gã người Hoa, vốn là khách buôn, tên Hùng Tài Lộc (125), quan Bộ Hình nghĩ thế nào? – Thượng thư Tôn Thất Thuyết hỏi –.
- Tôi thấy dạo này bọn Hán gian cũng lớn lối lắm. Nhưng bọn Pháp lại thừa cơ lừa ta rằng Hùng Tài Lộc là người của nước Anh, chúng bắt bồi thường, rồi lấy hai ngàn (2.000) tiền thuế thương chính bỏ túi! Thật đốn mạt! (125)… Bọn Pháp còn chạy về Hưng Yên hành hung dân lành một cách tàn ác. Bộ Hộ mới vừa “cấp tiền gạo cho dân hai xã (Đào Xá, An Cần) tỉnh Hưng Yên, bị lính Pháp đốt nhà, giết người” (126) !
Tôn Thất Thuyết cười gằn, cáu giận. Cố trấn tĩnh, một lúc, ông lại nói:
- Thật dã man hết nói nổi! – Quan Bộ Binh như thể đang nuốt hận, im lặng một lúc, lại nói –. … Thật tôi không ngờ thống đốc Hoàng Tá Viêm, tĩnh biên phó sứ Trương Quang Đản, “trước đã không biết dự phòng, sau lại không biết đánh ngay, lại lần lữa trông ngóng, ngồi nhìn để lỡ sự cơ. Đến lúc nghe bàn giả [:trả] lại tỉnh thành, mới dâng sớ xin đánh” (127) . Cũng thế, thượng thư Bộ Lại Nguyễn Chính sung làm kinh lược sứ Bắc Kì lần này thật đáng trách. Ông ta tránh giặc, “khi đi đường, nghe tin báo [thất thủ Hà Nội], lại tìm đường đi thẳng về Sơn Tây, xin tướng, xin quân, chưa nghe có thực hành một việc gì. Xin đều giao nghị xử, để răn về sau” (127). “Vua cho lời tâu ấy là phải” (127) . Vừa rồi quan khoa đạo Lê Doãn Thành tâu hặc tôi mới càng rõ.
- Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản lần lữa là vì triều đình không quyết đoán! Chính Hoàng Tá Viêm đã toan cãi lại lệnh dụ, không chịu tuân theo. Chính bản tâu của quan thống đốc còn đây: “Quan khâm sai giao nhận chưa xong, mà thương thuyết cũng không được việc gì. Xét về tình trạng, nước ấy [:Pháp] trao trả tỉnh thành, vốn không phải lòng thực. Nay đã giữ được các viên khâm sai ở trong tay, [chúng] tha hồ muốn làm gì thì làm. Nếu ta nghe nước ấy đuổi quân đoàn [Lưu Vĩnh Phúc] ấy đi, các tỉnh không phòng bị, [bấy giờ bọn Pháp] có thể thừa cơ được, thì [chúng] lấn áp làm càn. Nếu đoàn ấy làm việc cho ta, phòng bị hơi vững, thế [bọn Pháp] chưa làm gì được, thì [chúng] yêu sách nhiều khoản…” (128) . Ông ấy còn tâu: “Người Pháp đến lần này, lòng dối trá không thể lường được, mà thành Sơn Tây là nơi trọng yếu cho cả Bắc Kì. Nếu thành Sơn Tây bị vấp, không những toàn kì dao động, mà chợt đến dụng binh, [thì] không có chỗ đứng chân…” (129) . Tất cả là do tình huống này: Pháp đánh thành Hà Nội, chiếm được liền trả ngay, để ta không động binh. Ta yếu về lực lượng, chỉ mong hoà hoãn, cầm cự, hết sợ khích biến Pháp, đến sợ chúng làm ẩu, đánh tràn lan như năm Quý dậu (1873), khó chống đỡ nổi. Pháp lại buộc ta không được phòng thủ, phòng thủ chúng càng đánh. Do đó, nhà vua lưỡng lự, sợ mất tất cả, nên cứ hoà hoãn, cầm cự, ngay việc phòng thủ cũng phải theo chiến thuật hư binh. Nguyên nhân, nói gọn là bọn thực dân Pháp tham lam, ta lại bị rơi vào thế yếu. Nói gọn hơn: Pháp tham, ta yếu. Thực chất của tình huống là vậy. Cho nên, tôi đã hướng về Trung Hoa từ lâu, tìm cách liên minh với nhà Thanh, qua Đường Cảnh Tùng với danh nghĩa Chiêu thương cục. Việc liên minh giữa hai nước mà cũng phải ngầm lén, cho qua mắt bọn Pháp, thì chỉ một việc đó cũng đủ thấy thực lực của ta và nhà Thanh. Nhưng dẫu sao, tôi vẫn quyết chiến đến cùng. Và tôi càng quyết tâm hơn, nếu quân Thanh sang nước ta ngay lúc này. Tôi và cả chúng ta đều chờ, phải không? Chờ, để có quyết định quyết liệt hơn. Vì Đất nước, nhân dân và vì cơ đồ bản triều nhà Nguyễn, chúng ta không thể liều lĩnh, không đắn đo, trong tình huống này. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại nói tiếp –. Quan Bộ Binh Tôn Thất Thuyết xin cố nhẫn nại ít lâu nữa, bấy giờ sẽ quyết liệt, nếu Trung Hoa không thất hứa và họ thật tâm liên minh. Tháng tư vừa rồi, sứ bộ sang Trung Hoa do chánh sứ Nguyễn Thuật dẫn đầu đã về đến Lạng Sơn (130). Họ phải đi đường vòng để vào kinh, vì Hà Nội bị giặc Pháp chiếm cứ. Sứ bộ đang viết tập tâu (130). Một hai hôm nữa, xem Nguyễn Thuật tâu báo tình hình thế nào. Tôi đang rất sốt ruột đây…
Cuộc bàn luận vẫn tiếp tục cho đến khuya, khi trống đã điểm canh ba.
Mãi đến cuối tháng sáu, tình hình vẫn chưa sáng sủa hơn. Đúng như tập tâu thống đốc Hoàng Tá Viêm viết hồi tháng ba nguyệt lịch: ý đồ của Pháp là muốn đặt thêm đồn bót. Đến tháng này, “phái viên nước Pháp xin đặt đồn ở sông Bạch Hạc (thuộc huyện Bạch Hạc), tỉnh Sơn Tây. Vua không nghe [theo yêu sách của chúng]” (131) ! Và nhà vua vẫn phải giữ thái độ hoà hoãn trong chừng mức nào đó, để có thể cầm cự, chờ quân Thanh có thực tâm sang yểm trợ hay không.
Việc Phạm Thận Duật xin từ chức để lo biên tập bản thảo “Việt sử cương mục” và để nhường chức cho Tôn Thất Thuyết, đã bị nhà vua trách mắng khá nặng. Cả tham tri Bộ Công Lâm Hoành (nguyên quán Quảng Trị), người cùng Phạm Thận Duật đứng chung tên ở tập tâu, cũng thế. Thực tâm, vua Tự Đức vẫn muốn Tôn Thất Thuyết hàm dưỡng sâu hơn, mới có thể vào Viện – Bạc.
“Dụ rằng:
Vừa đây, cứ thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật xin giải Viện chức để nhường chức ấy cho Tôn Thất Thuyết, trẫm đã phê giao cho Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường cùng duyệt để thương xét, cùng các thư của Tôn Thất Thuyết điều trần tự lượng để tham khảo ý kiến của cả mọi người. Nay cứ phúc tâu, thì hai viên đại thần ấy sợ rằng mang tiếng dị nghị, muốn được nhiều người cùng gánh vác trách nhiệm, nên tâu lên những lời nước đôi. Tôn Thất Thuyết thì từ chối vì bệnh, đều là chưa có gì xác thực.
Vả, Tôn Thất Thuyết được hưởng trường hợp nghị thân [ưu tiên vì người Tôn Thất], và nghị hiền [ưu tiên vì là người có tài năng] rõ rệt, phận nghị càng quan hệ. Viên chức có khuyết, chẳng bổ cho Tôn Thất Thuyết thì còn ai? Nếu như nên được tức khắc sung bổ, thì còn cần gì tâu lên để nhường cho nhau? Nhưng trẫm xưa nay dùng người, bao giờ cũng giữ lẽ công bằng, tuỳ tài khí lục dụng, để cho công việc đều được thích nghi. Tôn Thất Thuyết dẫu có trí dũng, giỏi về việc binh, song sự lịch duyệt và hàm dưỡng đều chưa được sâu, sợ rằng không khỏi xảy ra lầm lỡ. Huống y là người khó nhọc nhiều, bệnh hoạn lắm, chữa trị chưa khỏi. Hiện nay giữ hai việc binh chính [Bộ Binh] và phòng bể [hải phòng], đều là quan trọng. Nếu làm trọn được chức vụ ấy tưởng cũng đã khó. Vì thế, hôm nọ chối từ việc kiêm thêm phủ vụ [Tôn nhân phủ], tưởng cũng là y tự lượng lòng mình để xứng với tài mình thì không nỡ cưỡng ép quá. Vả lại, khiến cho ngày thêm đào luyện, hàm dưỡng ví như vào chốn hoa thơm, uống li rượu tốt, tất biến hoá khí chất mà không tự biết, rồi sau mới có thể gánh vách được việc lớn.
[…] Vậy sao Phạm Thận Duật, Lâm Hoành không xét kĩ, đã vội ưng cho? Hoặc bảo các quan ở trong triều không ai hơn được? Hay hoặc bảo binh chính đã đổi mới? Nếu nói như thế thì quả là công [chính] hay tư [vị], là phải hay trái, chắc cũng có thể phân biệt được.
[…] Vậy sự tiến mau, lui gấp, cũng không phải tài khí cao xa, sao Tôn Thất Thuyết, Lâm Hoành lại tâng bốc cho nhau quá đáng. Như thế ít khi khỏi mang tiếng là a dua bè đảng.
Khoảng năm Minh Mạng có một kẻ sĩ khen tốt cho Nguyễn Hữu Thận, bảo là nên đặt vào địa vị sư phó, chứ không nên để cho làm quan ở ngoài. Vậy mà còn bị thánh chỉ quở răn là xưng tụng công đức của Vương Mãng [kẻ cướp ngôi vua, nhà Hán, Bắc sử], rồi theo công nghị triều đình nghĩ xử người [kẻ sĩ đề cử] ấy vào trọng hình. Các ngươi lại không trông đấy để tu tỉnh mà nghĩ kĩ hay sao?
[…] Nay trẫm thấy các ngươi che giấu điều lầm, vu nịnh điều trái quá lắm, nên không thể không vạch rõ những sự u ám bế tắc, ngăn ngừa ngay lúc đầu, để có thể bỏ hoạ thành tài, dự trù cho quốc gia sau này. Bởi vậy trẫm không ngần ngại nói quá nhiều lời, không kể gì nữa, chỉ mong phân tích rõ ràng để các ngươi dễ tỉnh ngộ mà thôi.
Đến như ngày nay là lúc đang cần gấp dùng người, được có người tài, há chẳng vui mừng, nhưng cũng không thể vội được. Sự thử thách các gian hiểm, bậc thượng thánh cũng còn thận trọng, huống nữa là người thường.
Đến như Phạm Thận Duật là người cũng có học thức, vả lại đã lịch luyện; nếu ngươi tự cam ăn ghé nói mò, phụ lòng uỷ thác, thì sẽ có pháp luật đó.
Hiện nay việc nhiều người ít, ai ai cũng nên cố gắng. Người làm mười ta làm trăm, người làm trăm ta làm nghìn, thì việc gì mà chẳng xong xuôi, chức vụ nào mà không đầy đủ.
Còn như cứ vin vào cái danh [biên tập “Việt sử”?] để chọn việc thì chức vụ nào mới kham nổi, lúc nào mới báo đáp. Vậy quyết nhiên không thể để cho tránh nặng tìm nhẹ.
[…] Khâm thử.
Ngày 30 tháng 06, Tự Đức năm thứ 35 (13.8.1882)” (132)
.
Vua Tự Đức rất quý trọng tài thao lược của Tôn Thất Thuyết, nhưng vẫn hết sức cẩn trọng, vì những lẽ đó. Vả lại, tình huống trong thời điểm hết sức gay gắt, có thể nói là gay gắt nhất, chính là lúc này, khiến nhà vua càng phải cẩn trọng, dè dặt. Sự cẩn trọng của vua Tự Đức còn bởi nhà vua phải hết sức lo ngại, đắn đo, một khi quân Thanh yểm trợ chưa hành quân sang nước ta để có thể phối hợp đương đầu với giặc Pháp.
Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nhận bản sắc dụ sau khi đã được tuyên đọc trong một buổi thiết triều. Ông cứ nghĩ ngợi, đọc đi đọc lại mãi. Tôn Thất Thuyết thấy rằng không phải nhà vua nhận định sai lầm… Nhưng thật lòng ông không thể yên tâm, không thể không đau lòng, nếu Trần Tiễn Thành cứ trì trệ, lần lữa, cứ để việc quân binh mãi hoài lạc hậu, yếu hèn… Ông cũng hiểu nỗi khổ tâm của thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường. Vả lại, trong tình huống đầy gay go, thách đố này, thượng thư Nguyễn Văn Tường đang còn ra sức vận động nhà Thanh, một lực lượng yểm trợ Đại Nam và làm đối trọng với bọn Pháp, mới có thể quyết chiến mà không bị chê trách là liều lĩnh, thiếu muu trí, không trông xa nghĩ sâu.

Hết tệp 3 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh
.

TRẦN XUÂN AN


(75) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 93.

(76) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.

(77) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 97.

(78) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 97.

(79) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98.

(80) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 94.

(81) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98.

(82) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.

(83) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 98 – 99.

(84) Châu bản, dẫn theo: Trần Viết Ngạc, trong tập Các báo cáo khoa học (CBCKH.), Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 56.

(85) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 99 – 100.

(86) TVTĐ., tập 2, Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1996, tr. 214 – 216.

(87) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 369 – 371. Về bộ sách Chống xâm lăng của GS. Trần Văn Giàu, tôi đã có dịp phê phán trong các chú thích trước thuộc bộ truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu này. Những các ý tưởng phê phán cụ thể hơn, xin xem: Trần Xuân An, Nguyễn Văn Tường, “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được” (NVT., NNTNTX., TKHĐ.), khảo luận và phê bình sử học, sắp xuất bản (2002).

(88) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 371 – 372.

(89) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 370.

(90) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 100.

(91) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 100 – 101.

(92) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 101.

(93) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 104 – 105.

(94) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 106.

(95) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 106.

(96) Nguyễn Đắc Xuân, Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành (PCĐT. TrTTh.), [trong đó có in lại bài viết của Đào Duy Anh trong Tập san Những người bạn cố đô Huế (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.], Cadière làm chủ bút, số 4 – 6/ 1944), bản dịch Bùi Trần Phượng], Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr. 35, 83.

(97) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 106 – 107.

(98) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 107.

(99) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 107.

(100) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 108.

(101) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 108 – 109.

(102) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 376.

(103) Trích nguyên văn: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 376.

(104) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 315.

(105) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 110.

(106) Dẫn theo: CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 377.

(107) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 128.

(108) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 192.

(109) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 81 (Tsuboi trích thư Henry Rivière gửi Puginier, ngày 14.11.1882).

(110) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 109.

(111) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 109.

(112) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 109 – 110.

(113) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 110 – 112.

(114) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 112.

(115) CXL., Nxb. Tp. HCM. tái bản, sđd., 2001, tr. 386, 388, 532. “Còn tại Huế, sứ Pháp là Rheinart thuyết khách cho đến đỗi triều đình đã nhận về nguyên tắc là cần làm thêm một bản phụ lục cho hòa ước 1874, trong phụ lục này sẽ ghi chữ “bảo hộ”” (TVG., trong CXL., sđd., tr. 386).

(116) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 116.

(117) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 118.

(118) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 118 – 119.

(119) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 119 – 120.

(120) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 134, 145 – 146.

(121) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 22.

(122) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 113 – 114.

(123) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 116.

(124) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 118.

(125) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 126.

(126) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 132.

(127) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 122.

(128) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 126 – 128.

(129) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 128 – 130.

(130) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 121 – 122.

(131) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 136.

(132) TVTĐ., tập 2, Nxb. Thuận Hoá, sđd., 1996, tr. 218 – 223.

Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2]).


TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 3
(phân đoạn 3, truyện kí 9)

Xin xem tiếp tệp 4
(phân đoạn 4, truyện kí 9)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A tệp 2)

Tệp 2 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 2 TRUYỆN KÍ THỨ 9)


TRẦN XUÂN AN

BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI


Truyện kí thứ chín
(phân đoạn 2)

6

Tháng bảy nhuận, tổng thống thuỷ sư Pháp Đa Phù Cô (?) lại ngang nhiên du thám một loạt tỉnh Bắc Kì, từ Hải Dương đến Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Sơn Tây, Hưng Hoá và cả đạo Mỹ Đức (thuộc Hà Nội, mới đắp thành luỹ) (44). Y lại phái viên thương biện Ô Mốt (?) đến Lạng Sơn khảo sát địa hình, địa thế (44)! Thế là từ đầu năm đến nay, Pháp đã mấy lần vin vào danh nghĩa “y tế”, “du học bác vật” để trắng trợn toan tính vận động người thượng du từ Nam đến Bắc, để trắng trợn khảo sát thực địa, phục vụ cho âm mưu đánh chiếm Bắc Kì, và chắc hẳn không chỉ Bắc Kì…
Trước tình hình căng thẳng ở Bắc Kì, Phạm Thận Duật mật tâu bốn kế sách đối phó về quân sự (45). Có một điều là Phạm Thận Duật cho rằng quân ta sử dụng súng không được giỏi, nên cần chú trọng đến các vũ khí thô sơ và chiến thuật phục binh đột kích, đánh úp ban đêm. Các đại thần Viện – Bạc, trong đó có cả Phạm Thận Duật, đã cùng nhau bàn luận, bổ cứu thêm. Tất cả bốn đại thần đều xác định giặc Pháp mạnh về tàu thuỷ, về súng đạn có sức công phá lớn, cho nên, giữ mặt biển là rất khó. Do đó, một là, phải lo trù tính thêm việc củng cố hệ thống sơn phòng (làm thành luỹ, kho chứa…). Hai là, việc giữ đường sông rất cần thiết, phải khảo sát thước tấc lòng sông, lưu lượng nước sông, đồng thời lo đóng thuyền chở sẵn đá, để ngăn sông. Điều thứ ba, phải tổ chức, luyện tập việc cứu viện nhanh. Viện – Bạc cho rằng không thể không dùng súng: “Việc binh có súng ống, có thể mạnh thế quân mà đánh giặc tự đằng xa. Nếu câu nệ là không giỏi mà muốn dùng thứ khác, sợ không phải là tốt cả”, “không phải xác định dùng khiên, mộc, gươm ngắn, tay thước làm gì” . Phải dùng súng Tây, và tất nhiên phải vận dụng chiến thuật đánh úp, phục kích, phải xét đến thời điểm bọn giặc được cấp phát rượu (có chất kích động?) để kích thích sự hung hăng khi xuất trận, ấy là điểm thứ tư. Kế hoạch này cần tuyện đối bí mật, phòng thủ theo chiến thuật hư binh (tăng cường phòng thủ nhưng không để lộ tiếng tăm, dấu vết), chứ không phải phòng thủ theo lối thị uy lộ liễu, bởi Pháp sẽ vin vào “hoà” ước để trách cứ ta. Thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật thật lòng thấy rõ là ông đã được sáng thêm nhiều lẽ trước sự bổ cứu của tập thể tứ trụ triều đình, trong đó có ông (45).
Sau cuộc họp Viện – Bạc hơn nửa tháng, vào khoảng gần cuối hạ tuần tháng tám nguyệt lịch năm Tân tị (1881) này, sự khiêu khích của Pháp đã trắng trợn, rõ rệt hơn. Trước đây, De Champeaux còn mượn miệng linh mục hành nhân Nguyễn Hoằng để thách thức, hăm doạ triều đình, rồi y lại chối phắt. Nay, chính Rheinart nói thẳng với quan Thương bạc Nguyễn Trọng Hợp.
“Lúc bấy giờ, sứ nước Pháp là Lê Na [Rheinart] đã sang thay, nói với quan Thương bạc [lúc này là Nguyễn Trọng Hợp]:
“Trong hoà ước có nói, nước ta có việc, nước ấy phải giúp, tuy không nói rõ là “bảo hộ”, nhưng ý nghĩa đã bao hàm ở trong. Nay khoản ấy triều đình nước ấy đã định làm, mà làm như thế, nước ấy [nước Pháp] không lấn quyền nước ta, chỉ bắt ta không được giao thiệp với nước khác thôi. Ta nếu không nghe, nước ấy cũng bắt làm cho được”.
Triều đình rất lấy làm lo” (46)
.
Đó là nỗi lo xen lẫn với niềm phẫn nộ. Nhà vua, đình thần và biên thần đều quá rõ âm mưu “tàm thực” từ lâu của thực dân Pháp và các nước Âu Mỹ khác, không riêng với nước Đại Nam ta, mà cả với các lục địa Á Tế Á (Asia), A Phi Lị Gia (Africa), Nam Mỹ Lợi Kiên (South America) và châu Úc Đại Lợi (Australia, châu Đại Dương). Nước ta nhận thức rõ thế yếu của mình, cả về công nghệ, thương mại lẫn lực lượng quân binh, nhất là vũ khí. Lịch sử dân tộc có những giai đoạn hào hùng, quật khởi bi tráng, đánh bại những triều đại hung hãn và hùng mạnh nhất của Trung Hoa, kể cả ba lần chiến thắng, đập tan lực lượng xâm lăng cuồng bạo của đế quốc Nguyên – Mông vô địch thế giới, nhưng hiện tại của bản triều nhà Nguyễn là suy trầm, lạc hậu đến bi thảm và bi hài. Nhận thức ấy là trí, không hề hoang tưởng về thực lực đương thời của nước mình, các lân bang, và các nước cùng chung vận mệnh. Cái dũng không thể không đặt trên cơ sở cái trí. Nhưng cũng không có nghĩa phải khuất phục thảm hại trước uy vũ của bạo cường.
Vẫn giữ vững cái dũng một cách mềm dẻo: cương cường trong nhu nhược (47), Viện Cơ mật – Thương bạc tuân chỉ dụ của vua Tự Đức, lại cùng nhau bàn luận để tìm ra một đối sách thích ứng với tình huống, phù hợp với thực lực.
Sau nhiều cuộc họp ở Tả vu Điện Cần chánh, một bản tập tâu đã được tứ trụ triều đình dâng trình lên vua. Bốn đại thần Viện – Bạc, từ Trần Tiễn Thành (người Huế, gốc Minh Hương), Nguyễn Văn Tường (người Quảng Trị), Phạm Thận Duật (người Ninh Bình) và Nguyễn Chính ([Chánh], người Bình Dương, Biên Hoà, Nam Kì) đều thật sự cảm thấy có gì thật thương tổn đến đến niềm tự hào, tự trọng khi cần phải nhận thức thật đúng về thực lực của Đất nước và của các nước cùng chung vận mệnh khốn khó trước hiểm họa thực dân da trắng. Nhận thức thật chính xác về thực lực, thấy thật rõ những yếu kém, lạc hậu và cũng phải thấy những gì có thể vận dụng để đối phó trước mưu toan của Pháp. Đó là mưu toan xâm lược Bắc Kì, đòi “bảo hộ” triều đình Đại Nam. Chính tên khâm sứ Rheinart lần này trắng trợn nói ra như thế với Nguyễn Trọng Hợp! Gần đây, để bảo đảm sự xác thực của những tâu báo từ Nha Thương bạc do Nguyễn Trọng Hợp quản lí, nhà vua đã cho phép các quan chính khanh (thượng thư, đại thần Viện – Bạc) có quyền trực tiếp tiếp xúc với khâm sứ Pháp (48). Và thật sự Rheinart thừa nhận chính y đã nói thẳng với triều đình thông qua Nguyễn Trọng Hợp như thế. Đó là sự thật. Và đồng thời đó cũng là một sự thách thức ngạo mạn.
Bản tập tâu kí tên chung của Viện – Bạc đã hình thành trong tâm thế chung như vậy, với bốn sắc thái và mức độ khác nhau của bốn đại thần. Trong bốn đại thần, Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường đã chia về hai cực, nhưng Trần Tiễn Thành vẫn là người muốn tranh thế thắng cho khuynh hướng buông xuôi, đầu hàng, thường tự gọi bằng từ chủ “hoà”. Dẫu sao, không phải Trần Tiễn Thành muốn làm gì, tâu gì cũng được, nếu lấy danh nghĩa là Viện – Bạc. Tinh thần chung của đối sách có tính tình huống vẫn là: cương cường trong nhu nhược!
“Quan Viện Cơ mật – Thương bạc tâu nói:
“Tướng và sứ nước [Pháp] ấy để ý đã lâu, nay tính sẽ làm, mưu đã sắp thành, tưởng cũng khó tranh luận khúc chiết với [bọn tướng, sứ] nước ấy. Tất [:ắt hẳn] phải phái người sang nước ấy, hoặc [:may ra] có thể làm việc được. Khâm phái Nguyễn Thành Ý là người tài giỏi, sáng suốt, am hiểu. Xin phái biện lí Nguyễn Lập thay làm lãnh sự, để cho Nguyễn Thành Ý về kinh, rồi bàn hỏi tình trạng gần đây cử động nước ấy thế nào, có nên phái người sang nước ấy, đem tình, ý [:chính kiến] của ta cùng sự lí biện bạch, khiến cho công lí được rõ ràng, hoặc có thể bài giải được. Việc đi ấy, nghĩ nên [thông] tư trước cho tướng và sứ nước ấy, nói hai khoản ta [trước đây] đã [từng] nói: về đặt sứ [bố trí khâm sứ Đại Nam, tại Paris] và sai sứ đi [Paris]; thì việc đặt sứ hiện nay đợi làm, còn như sai sứ đi là tình nghĩa hỏi thăm nên như thế. [Sứ thần] nước ta nhất định phải đi. Nếu nước ấy có thuyền công, cho tiện đáp cũng tốt. Không được như thế cũng nhân tiện đáp thuyền khác là ổn. Như thế nước ấy khỏi ngờ, mà nước ấy không nói vào đâu để ngăn cản được. Việc ấy nghĩ nên làm ngay, khỏi lỡ việc sau”.
Vua bảo rằng:
“Việc ấy trọng đại, tưởng nước ấy chưa dám trái lời ước [:“hoà” ước], yêu cầu [:yêu sách] ngay. Nhưng BỌN NGƯƠI [xin nhấn mạnh: đại từ số nhiều – TXA.] ở ngoài giao tiếp với nước ấy, và kiến văn hẳn rộng, tính trước việc cho khỏi lo, [việc] nên theo, để cho làm hết chức phận”.
Quan Cơ mật viện và Thương bạc lại tâu nói:
“Nước ấy đã mưu, không phải một ngày. Nay chưa phát ngay, nhưng cũng chưa thôi hẳn. Nay nếu ta chỉ đến nước ấy, nói phân trần, sợ chưa chắc đã có cơ hội; mà ngăn ngừa ta giao thông với nước ngoài, là chỗ giảo quyệt của nước ấy. Duy trong ước [“hoà” ước Giáp tuất 1874] có một điều, “nước ta muốn định thương ước với nước nào đều được tuỳ tiện”, thì nước ấy đâu có thể trái lời ước được. Nhưng ta từ trước đến giờ chưa giao thông với các nước, mà nước ấy không khỏi giữ ngầm ở trong, nên sáu, bảy (06, 07) năm nay, các nước chưa nước nào đến định thương ước với nước ta. Gần đây ta cùng với nước Y Pha Nho định ước, giao ước với nhau đã lâu, mà nước ấy [nước Y Pha Nho] cũng chưa có đến, thì tình [:lòng dạ, ý đồ của Pháp] có đáng ngờ; cũng là [bởi] tình [:quan điểm, chính kiến] của ta chưa thông với các nước, cho nên nước ấy [nước Pháp] mưu làm tự chuyên. Vả lại giao thiệp với nước ngoài thực khó, ta chỉ sợ khích nước ấy, lòng mưu [mô thôn] tính ta, vì đó lại phát ra. Nay mưu nước ấy sắp thành, ta há nên không giải quyết sớm, huống chi ta cũng cứ lí mà làm, làm sáng cho chúng biết, có trái ước gì đâu, mà chúng vin cớ để nói được. Nguyễn Thành Ý bất nhật cũng về [kinh đô Huế]. Xin chờ chỉ [dụ] phái đến nước ấy hỏi thăm, và đem việc ấy biện thuyết. Nhân [đó] đến ngay các nước [khác] cũng tiện.
Nhưng tự trước đến giờ [nước ta] thường bị nước ấy ngăn trở, vì ta không có tàu, chỉ đáp tàu với nước ấy, tùy theo nước ấy đi hay đứng mà phải thế. Nay xin sửa soạn tàu của ta, chọn người ở triều đình có lòng đảm đương công việc, lấy hai, ba người, lấy cớ đi tìm học về bác vật, như nước Thanh cho người đi học các nước, [thông] tư rõ trước cho nước ấy biết. Đến lúc đi thì đến nước [Pháp] ấy trước; [sau đó,] nhân [dịp] chuyển đi các nước Y [Tây Ban Nha], Anh, Phổ [Đức], Mỹ, khiến cho các nước biết ta tự chủ, nhân đó mà thông suốt tình ý [:chính kiến nước ta]. Tục Thái Tây [Âu Mỹ] thích giao thiệp chơi bời với nước xa. Ta đến, tự khắc không nước nào không nhận. Tưởng cũng có nước muốn giao thiệp thông thương với nước ta, thực [sự] khiến cho tình [:chính kiến] của nước ta thông suốt các nước. [Được thế] thì nước ấy không thể tự ý làm càn được. Nếu nước ấy có lòng nào bắt ức ta, ta cũng có thể cùng các nước điều đình giúp bàn lại, tưởng cũng là một kế đấy.
Lại xét đến tàu máy hơi nước: Hiện có tàu Lợi Đạt và tàu mới đóng ở Hương Cảng, cũng có thể đi được. Duy người ngắm hoa tiêu và máy tàu tất phải thuê người Tây [dương (:người Âu Mỹ)], mới có thể quen biết đường biển đi sang Tây [châu Âu, châu Mỹ]. Người nước ấy ra làm công là thói thường của nước Tây [dương]. Tàu thuỷ, tàu binh của nước Thanh đều thuê người Tây làm ngắm hoa tiêu và [lái, chữa] máy tàu, tức như những tàu buôn ở nước ta cũng đều thuê người Tây [dương], không có trở ngại gì. Xin tư trước cho khâm phái ở Hương Cảng là Phạm Bính, Hà Văn Trung thuê sẵn người Tây [dương] ngắm hoa tiêu và [lái, chữa] máy tàu đều một người. Đợi quả quyết đi, sẽ làm việc. Còn tàu đi cũng nên đáp tải ít nhiều hàng hoá, vừa đủ tiền phí tổn nhỏ. Việc ấy nếu được chuẩn y, thì công việc nên làm sẽ do quan có trách nhiệm chiểu từng khoản, bàn định trước.
Lại việc này còn xa, nay gần mà có thể giao thông được thì ở Yên Kinh [kinh đô nước Thanh], sứ các nước đều ở đấy. Nhiều lần sứ bộ ta sang Yên Kinh chưa biết bàn đến việc ấy, vì sự thể giao tế khác nhau, cho nên khó làm. Nay có Cục Chiêu thương chở hàng thuê, do quan ở Cục ấy giới thiệu, tưởng cũng là một cơ hội. Gần đây tiếp được tin báo Đường Đình Canh tháng này cũng đến, xin do BỌN TÔI [xin nhấn mạnh: đại từ số nhiều – TXA.] thương thuyết, nhờ viên ấy ngỏ ý với Lý Hồng Chương, nhờ mật dò ý [của] sứ các nước Anh, Mỹ, Phổ [:Đức], để nắm được cốt yếu, thông thuyết giúp cho. Còn sứ Y Pha Nho ở đấy, nước ấy đã định ước với ta, thì nên bàn với họ. Nước Thanh gần đây tranh nước Lưu Cầu [: nước Riu Kiu, nay là đảo Okinawa] với nước Nhật Bản mà không được [vì có sự can thiệp của tổng thống Mỹ Grant]. Nay nước ấy [nước Thanh] làm việc cho ta, cũng là làm việc cho nước ấy [:nước Thanh bảo vệ nước ta, cũng chính là bảo vệ phên giậu phía nam của nước Thanh]; tưởng cùng nòi giống [da vàng] với ta cũng lo [:lo âu về các nước thực dân da trắng], tất hết lòng mưu thực mà việc chóng xong. Việc ấy năm trước có một nhật báo cũng có ý như thế. [Ý ấy đã có người đăng báo] cũng có thể biết là lẽ ấy ai cũng đều biết. Nay xin cùng với các khoản trước, xin chọn phái, đều phải cùng làm, may ra dẹp tan được [tham vọng, âm mưu xâm lược của Pháp], để giữ toàn cục”.
Vua bảo rằng:
“Hiện nay đương mưa lụt. Đợi [Nguyễn] Thành Ý về [kinh đô Huế], hỏi rõ, và tàu bè đủ, mới có thể nói đến việc đi [sang Pháp và các nước Âu Mỹ như đã bàn]”” (49)
.
Như vậy, trong tháng bảy, tháng tám năm Tân tị (1881), tập thể Viện – Bạc và vua Tự Đức đã vạch ra kế hoạch tăng cường phòng thủ hư binh và đối sách phá vỡ sự cấm vận, bao vây ngoại giao của thực dân Pháp. Sứ bộ đi Pháp cũng đang được tuyển chọn, lên danh sách.
Tuy vậy, mọi việc đều ứng xử như chưa có gì xảy ra.
Tháng chín, Bắc Kì cũng đang lâm vào cảnh tiêu điều vì thiên tai bão lụt. Phan Đình Phùng và Đặng Trần Hanh được cử ra để cứu trợ, phát chẩn (50). Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tuân lệnh dụ hỏi han về tình hình thiên tai ở Bắc Kì (51).
Tháng mười nguyệt lịch, một cách ngang nhiên, “phái viên nước Pháp đi xem các mỏ ở Quảng Nam và Bắc Kì” (52) , cũng như tháng trước, bọn thương nhân Pháp “theo đường Hưng Hoá đi Vân Nam, đến Lũng Lỗ, cùng khiêu khích với đoàn quân Lưu Vĩnh Phúc rồi trở về. Lãnh sự Pháp [lại] đem việc ngăn trở việc buôn trách ta” (53)! “Lê Na [Rheinart] tư vị, cố chấp ngang ngược (như việc bênh vực tên Đỏ [thuộc hạ của y])” (54) lại là một việc có thể nói là cố tình khích biến. Do đó, Trần Thúc Nhẫn, tả thị lang Bộ Lễ, đã được phái vào Gia Định để “tranh luận cho khúc chiết” (55) .
Tình hình ở Bắc Kì vẫn được lưu ý nghiên cứu, theo dõi. Trong đó, có một sự đánh giá khá ưu ái về những người Việt gốc Chăm, gốc Xiêm:
“Bãi bỏ binh đội Lạc Hoá phủ Lý Nhân (thuộc Hà Nội). Tiên tổ nước ấy trước là hai đội Chiêm Hậu, Xiêm Hậu (đều là người man [!!!]), [vốn có] tài bắn súng nỏ. Trước khi dẹp yên cả nước, chúng hết sức theo việc nghĩa, sau để đóng ở Bắc Thành. Khoảng năm Gia Long, phái đến trấn Sơn Nam. Khoảng năm Minh Mệnh đổi tên đội, [hệ] thuộc vào trấn ấy. Sau đổi trấn làm phủ, vẫn theo phủ sai phái. Đến nay con cháu không có nghề bắn giỏi, mà vỡ đất lập phường, cùng với người Kinh không khác. [Nay] bèn [bãi] bỏ [binh đội ấy] đi, cho vào [họ được vào] sổ đinh chịu thuế ở phường Quy Lưu [như mọi tráng đinh người Kinh]. (Năm Minh Mệnh thứ 20 đội man ấy có đơn xin trưng 20 mẫu đất đất lậu. Năm Tự Đức thứ 3, chuẩn cho đặt là phường Quy Lưu)” (56) .
Không chỉ những người Việt gốc Chăm, gốc Xiêm [Thái Lan] “hết sức theo việc nghĩa”, “cùng với người Kinh không khác” ấy ở Bắc Kì, triều đình mỗi lần ban ân chiếu, đều có một điều khoản khoan hồng những người đồng bào thiểu số can án (mức án lưu đày, phân sáp, làm dân lưu, làm nô bộc), vốn có nguyên quán ở các tỉnh tả kì phía nam kinh đô Huế (từ Quảng Nam vào Bình Thuận) và ở Nam Kì:
“Nguyên phân sáp, an trí những người man [!!!],người [Thuỷ Chân] Lạp làm dân, làm nô ở từ các tỉnh hữu kì về phía nam [từ Thanh Hoá trở vào], trừ người nào đã thành sản nghiệp, tình nguyện xin lưu ở lại nên cho, ngoài còn dư, đều được thả, về quê cũ yên nghiệp” (57) .
Tuy thế, không có ân chiếu nào có điều khoản khoan hồng cho những người Chăm, người Thuỷ Chân Lạp bị can án ở mức độ trầm trọng hơn, phải lưu đày xa hơn (lưu tột bậc: ba nghìn [3.000] dặm), từ Ninh Bình đến các tỉnh biên giới phía bắc. Dẫu sao, cho dù ở trường hợp nào, những người đồng bào thiểu số ấy, mấy chục năm nay chưa thấy và hẳn sẽ không thấy có sự liên hệ nào với “tả đạo” hoặc “phù Lê”, hoặc câu kết với giặc Pháp. Ở phủ Lý Nhân chỉ đôi khi xảy ra nạn cướp, hẳn do bọn giặc cỏ từ đâu lẻn tới: “Hà Nội trước [đây], nhân có việc [03.1882], xử trí chưa xong, nhiều lần phủ Lý Nhân báo có cướp…” (58) .
Hạ tuần tháng mười một Tân tị (1881), nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết mới được bổ làm thự thượng thư Bộ Binh (59), và sau đó không lâu, ông kiêm lãnh cả Hải phòng sứ kinh kì (60), tổ chức việc phòng thủ ở cửa biển Thuận An. Lê Hữu Tá chuyển sang lãnh đạo Bộ Công.
Sau hai tháng nghiên cứu tình hình, sắp xếp lại nhân sự ở bậc chính khanh, sứ bộ sang Pháp cũng đã được tuyển chọn xong. Chánh sứ: Nguyễn Trọng Hợp (người Hà Nội, được vua khen ngợi), phó sứ: Nguyễn Thành Ý, tham biện: Vũ Ngọc Tuân, Phạm Như Xương (61). Nhưng tình hình đã bị đẩy đến mức căng thẳng, rồi bùng nổ, do ý đồ xâm lược bằng vũ trang của thực dân Pháp. Vì vậy, kế hoạch đưa sứ bộ sang Pháp và các nước châu Âu bị tình huống ấy phá vỡ.
Bằng những chiếc kim khánh ngoại giao, nước Y Pha Nho lại trang tặng vua Tự Đức cùng các đại thần Viện Cơ mật, cựu tổng lí thương chính, các nguyên sứ thần trước đây: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Phạm Phú Thứ, Đỗ Đệ, Hoàng Diệu (62). Nhưng mối quan hệ ngoại giao ấy vẫn bị Pháp ngáng trở trong kế hoạch bao vây, cô lập ngoại giao nước ta của chúng! Nhận định của các đại thần Viện – Bạc: “Gần đây ta cùng với nước Y Pha Nho định ước, giao ước với nhau đã lâu, mà nước ấy [:nước Y Pha Nho] cũng chưa có đến, thì tình [:lòng dạ, ý đồ của Pháp] có đáng ngờ; cũng là [bởi] tình [:quan điểm, chính kiến] của ta chưa thông với các nước, cho nên nước ấy [nước Pháp] mưu làm tự chuyên” (63) . Nay, với những chiếc kim khánh ấy, quan hệ vẫn chưa hé lộ được tia sáng nào trong tháng chạp.
Triều đình nước ta vẫn tăng cường phòng thủ với chiến thuật hư binh, vẫn ra sức phá vỡ sự bao vây, cấm vận về ngoại giao, kể cả việc Pháp ngăn cản sự canh tân, chúng đang cố quyết tiến hành!
Phái đoàn sang Hương Cảng, trong kế hoạch mở rộng ngoại giao và xúc tiến việc canh tân, đã trở về. Trưởng phái đoàn Lê Đĩnh, cùng hai thành viên khác, Phạm Bính và Hà Văn Quan, đã được vào triều chờ tâu trình.
Nhà vua hỏi bằng sắc chỉ: “Ngươi ở Hương Cảng có nghe biết sự gì? Và họ có nói gì đến việc nước ta không?” (65) .
Quan khoa đạo Lê Đĩnh, nguyên trưởng phái đoàn tâu về tính chuyên nghiệp của quan chức và binh lính Anh. Quan chức chuyên nghiệp đã đành, lính của Anh cũng chỉ thuần là lính chuyên nghiệp, không bắt lính làm những việc khác ngoài việc binh. Ông lại tâu: “Các nước Thái Tây [:Âu Mỹ] giàu mạnh, không ngoài việc buôn và việc quân mà thôi. Lấy sức tàu binh để bảo vệ tàu buôn. Tất [nhiên] phải trước hết lấy thuế tàu buôn để nuôi tàu binh. Cho nên, chỉnh đốn việc thông thương rất nhanh. Gần đây nước Nhật Bản theo gót Thái Tây, thông thương khắp nơi. Nước Thanh cũng bắt chước mà làm, dần dần cường thịnh. Ở Hương Cảng thì đặt Cục Chiêu thương, đóng tàu thuỷ vận tải khách và hàng hoá; lại xướng xuất đặt công ti Triệu Hưng, đi sang nước Anh buôn bán, để làm cớ mở mang việc buôn; lại còn chọn thanh niên tuấn tú đi các nước học tập kĩ nghệ, hoặc đón thầy các nước về. Hiện nay các nghề làm súng, đóng tàu, cho đến bao diêm, đá lửa, lần lượt làm được cả. Hoặc [hai nước ấy] khen nước ta sản vật vốn phong phú (như mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ than), người phần nhiều thông minh, nếu biết cố gắng làm việc thì dân giàu nước mạnh, tự khắc chẳng khó. [Họ cũng bảo,] duy chỉ văn thư rất phiền phức, làm việc phần nhiều câu nệ trở ngại mà thôi” (64) .
Thượng thư Nguyễn Văn Tường đã từng suy nghĩ rất nhiều về tập tâu trước đây của Nguyễn Tăng Doãn, Nguyễn Thành Ý khi phái bộ sang Pháp và các nước châu Âu về. Lần này, ông so sánh tập tâu của sứ bộ sang triều Thanh, chánh sứ là Phan Sĩ Thục, cũng trước đây, hồi năm Bính tí (1876), với tập tâu của trưởng phái đoàn Lê Đĩnh bây giờ (Tân tị, 1881), và không thể không đăm chiêu, nghĩ ngợi. Đúng như nhà vua thường nói, “không tiến tức là lùi” (65). Nhưng ở nước ta, nội một chuyện tiễu phỉ cũng đã hao kiệt công sức, ngân sách, kho tàng nhiều rồi, lại phải thường xuyên đối phó với kế hoạch “tàm thực”, bao vây, cấm vận không ngừng của giặc Pháp, thật không thể nào rảnh tay, thoát khỏi để vươn lên được. Do đó, kế hoạch phá vỡ sự kìm hãm của giặc Pháp đã vạch ra, trong đó, hướng mở về phía nhà Thanh, tạo thế ngoại giao trung lập, đối trọng. Không thể muộn hơn được nữa, cho dẫu Pháp tìm cách ngăn cản đến mức nào! Chính tập tâu của Lê Đĩnh khiến thượng thư Nguyễn Văn Tường càng củng cố quyết tâm của ông hơn bao giờ hết.
Bỗng dưng, ông lặng người khi nghe tin từ Quảng Nam ra: Phạm Phú Thứ về quê chữa bệnh, nay đã qua đời (66)! Thế là sau á khanh Lê Đình Tuấn, nay triều đình lại gặp thêm một cái tang đường quan!
Dẫu thế, cũng phải chuẩn bị tinh thần để lại tiếp xúc với Đường Đình Canh. Thượng thư Bộ Hộ sung chức đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc và là đại thần kiêm quản Cục Thuyền chính Nguyễn Văn Tường biết rằng đây là một cuộc tiếp xúc ngoại giao hết sức quan trọng, quyết định bước ngoặt rõ rệt của triều đình và tất nhiên, của chính ông (67).
“Vua cho là quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh ngờ; bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn kín với Đường Đình Canh.
[Đường] Đình Canh nói: “Tháng mười năm nay, khâm sai nước Thanh đóng ở nước Anh là Tăng Kỷ Trạch báo tin rằng: “Nghị viện nước Pháp bàn kín, Bắc Kì nước ta đất cát màu mỡ, núi sông lại có mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, than đá, xét ra tình thể, chỉ giở bàn tay là xong. Lãnh sự nước Pháp là Thoát Lãng lại đã xin đem một, hai nghìn [1.000 – 2.000] quân đánh lấy Bắc Kì. Nghị viện nước Pháp đã chuẩn y. Chẳng bao lâu tất đem quân nước ấy cùng các đạo quân ở Tây Cống [:Sài Gòn] khẩn cấp cùng phát đi. Còn [Pháp] nói là đuổi Lưu Vĩnh Phúc, chỉ là nói thác ra mà thôi. Vua nước Thanh giao cho các nha môn quân cơ bàn cho thỏa đáng, cho nên tổng đốc tỉnh ấy phái đạo viên ấy báo tin cho nước ta, phải mưu tính ngay để mong giữ được”.
Vua cho là thư của tổng đốc ấy đã hồn nhiên, ta cũng không nên lộ; sai [Nguyễn] Văn Tường mật dặn [Đường] Đình Canh ba việc:
+++ Nước ta triều cống nước Thanh, các nước đều biết. Nước Thanh đặt Tổng lí nha môn, công luận ở đấy. Nếu họ sinh lòng trái lời ước thì nước Thanh nhận làm thuộc quốc của nước Thanh, [để] cùng với các nước tranh luận, thì họ cũng không dám trái công luận để làm theo ý riêng. Nhưng cho nước ta đặt quan đón đón chờ [:quan tiếp tân, quan ngoại giao] ở kinh đô nước Thanh, nếu có việc gì, được tố cáo ở Tổng lí nha môn.
+++ Ở Quảng Đông, hiện nghe lãnh sự các nước phần nhiều đóng ở đấy. [Triều đình Đại Nam] muốn nhờ quan tổng đốc Quảng Đông tâu xin [vua Thanh] cho nước ta đặt một lãnh sự ở đấy để tiện đi lại buôn bán, thông báo tin tức, nhân cùng giao du với các nước để thông hiểu tình ý.
+++ Nước ta muốn phái người đi khắp các nước như các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ, Áo, Nhật Bản, xem xét và học, [nhưng] chưa được thuận tiện. Nước Thanh có tàu thường đi lại các nước ấy, [ta] muốn nhờ đáp đi, [hẳn] không trở ngại.
Đến khi [Đường] Đình Canh về, vua sai viết thư trả lời tổng đốc Quảng Đông. Đại khái nói: “Đầu mối việc ấy, đã hiểu qua cả. Nay nên làm thế nào mà có thể được tiện, [thì] đã như đạo viên họ Đường trình bày ở trước mặt tất cả”.
Và [ngoài ra, nhà vua còn bảo] gửi thư cho thự lí thông thương khâm sai đại thần nước Thanh là Lý Hồng Chương.
Lại đều đem đồ vật gửi tặng: tặng Trương Thụ Thanh, Lý Hồng Chương mỗi người một đôi ngà voi hạng nhất, một cái sừng tê hạng nhất. Sau, tổng đốc họ Trương [Trương Thụ Thanh] đem đồ vật ấy trả lại, nói rằng, nhận sợ nước Pháp ngờ, có việc khó giảng thuyết; tổng đốc họ Lý [Lý Hồng Chương] cũng lấy thơ và tờ khải đưa cho, để tỏ tình cùng khuyên về ý đều phải tự cường” (67)
.
Đó là cuộc tiếp xúc ngoại giao vào một ngày gần cuối tháng chạp, năm Tự Đức thứ ba mươi bốn, Tân tị (1881, đầu năm 1882).
Thượng thư Nguyễn Văn Tường không bất ngờ nhưng thật lòng không thể không thấy thế yếu hiện thời của Trung Hoa “thiên triều”! Ngay chính Trương Thụ Thanh cũng sợ nước Pháp ngờ vực Trung Hoa, khi Đại Nam – Trung Hoa đã cố gắng thắt chặt hơn quan hệ. Nhưng thượng thư Nguyễn Văn Tường càng buồn hơn khi thế nước ta hiện nay là vậy, nên không cách nào khác, chính ông phải tuân chỉ dụ, đặt vấn đề: “Nếu họ sinh lòng trái lời ước thì nước Thanh nhận [nước ta] làm thuộc quốc của nước Thanh, [để] cùng với các nước tranh luận, thì họ cũng không dám trái công luận để làm theo ý riêng” (67) . Điều ấy, thật mất quốc thể! Nhưng dẫu sao, nước ta phải tìm một chỗ dựa để đấu tranh giữ quyền độc lập, tự chủ trước sự lấn hiếp của Pháp; phải tìm một chỗ đứng để có thể đấu tranh trước công luận ở tại Thiên Tân, nơi có nhiều lãnh sự các nước; phải tìm cách đưa người đi du khảo, học tập công nghệ cơ khí, điện báo ở các nước tiên tiến.
Thượng thư Nguyễn Văn Tường nghĩ đến thế trận “toạ sơn quan song hổ đấu” (ngồi trên núi xem hai con cọp đấu nhau). Hai con hổ đấu nhau, ắt có một con chết, một con bị thương nặng. Bấy giờ, nước Đại Nam ta sẽ thừa dịp giành lại hoàn toàn chủ quyền, hoàn toàn độc lập. Đó là một thế trận thật lòng không nên vận dụng với ý nghĩa như vậy. Thật lòng, ông chỉ muốn nước Pháp và các nước Âu Mỹ hãy ngừng lại cuồng vọng thực dân ghê tởm của chúng. Thật lòng, ông hi vọng nước Trung Hoa sẽ không tham lam, dùng sức tàn của mình để xâu xé nước láng giềng Đại Nam trong thế kẹt lịch sử. Nếu Trung Hoa giúp đỡ nước Đại Nam đồng cảnh ngộ trước hiểm hoạ thực dân da trắng, (đó là bọn cầm quyền ở các nước Âu Mỹ, mà hẳn nhân dân các nước da trắng ấy cũng phỉ nhổ, căm ghét chúng), thì Đại Nam ta sẽ mãi mãi ghi đậm trong sách sử những lời biết ơn trước tấm lòng láng giềng Trung Hoa trong sáng, nghĩa hiệp. Thế trận ấy, và tính chất của nó, còn tuỳ ở lòng dạ triều đình nhà Thanh Trung Hoa…

7

Nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết hết sức xúc động khi nhận được sắc dụ bổ nhiệm do vua Tự Đức ban cho. Ông bái tạ, lãnh nhận và sau khi tiễn chân các quan chức Bộ Lại thừa lệnh nhà vua, đến trao sắc dụ tận ngôi nhà của ông tại làng Vân Thê, huyện Hương Thuỷ, một làng quê nhỏ, ở phía nam kinh thành Huế.
Trong một buổi sáng tháng mười một hơi hửng nắng ấm, sau nhiều ngày dài mưa rét, nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết đã nghe đọc, lúc ông đang thi lễ trước hương án mới bày ra, hướng về kinh thành. Bây giờ, ông đang đọc lại một mình.
“Dụ rằng:
Nguyên thự tổng đốc sung hiệp đốc Tôn Thất Thuyết, bị bệnh đã lâu, trước đã chuẩn cho giải chức để về điều trị, nhiều lần cấp thuốc thang và cho thăm hỏi, nay đã được khỏi, lại biết gắng lên xin lai kinh [:đến kinh đô] sung chức để báo đáp ơn sâu. Trẫm khen là người có lỗi mà biết sửa đổi. Nhưng việc đã qua không nói đến nữa, để cho biết tự đổi mới. Vậy nay điều bổ chức thự Binh Bộ thượng thư, để cho xứng chức.
Và ngươi vốn giỏi về việc quân, trước ở tỉnh Thanh [Hoá] đã tự xin chỉnh đốn thao luyện quân sĩ, để có căn bản vững chắc, thì ngày nay đây, quân sĩ phần nhiều yếu kém, cần phải chấn chỉnh lại. Đó là trẫm rất mong vậy.
Ngươi phải đem hết tài năng để trù liệu. Trên thì có quản lí Trần Tiễn Thành là bậc lão thành, luyện đạt giúp đỡ khi cần. Dưới thì có các viên tham tá bàn định để công việc khỏi trái lệch.
Phàm các việc chấn chỉnh huấn luyện phải làm sao [càng] ngày [càng] được bổ sung, hùng tráng, việc võ được mạnh, kĩ thuật được tinh, để giúp nên văn giáo, mà gia uy đối với kẻ làm càn, tỏ rõ oai phong như có một uy thế không ai dám phạm. Đó là tài năng của ngươi, chớ nên coi thường mệnh lệnh của trẫm.
Ngươi trước kia có nhiều sai lầm, đều bởi khí huyết đang mạnh, học vấn lại ít, nên không tránh được trong một lúc có ý kiến sai lầm. Người ta ai chẳng có điều lỗi, nhưng quý ở biết sửa lỗi. Nếu đã tự biết lỗi, thì cũng không cần phải nói trách làm gì.
Từ nay về sau, ngươi càng nên lo sửa mình, lời châm tứ vật [thấy điều gì trái lễ thì chớ trông vào, chớ nghe vào, chớ nói vào, chớ động vào], chăm giữ chớ dời. Khi việc quan rảnh rỗi, nên đem bộ kinh Thượng thư và sách Luận ngữ, sớm tối đọc và thể nghiệm, thì có thể thấy rõ cái đạo vua tôi cha con, cái phép sửa mình trị người của thánh hiền, cho tới một việc gì, một vật gì [cũng] đều rõ ràng. Nếu ngươi biết thể nhận mà thực hành, tự nhiên sẽ biến hoá được khí chất, hàm dưỡng được đức tính, ngày thêm tiến lên cái cõi quang minh thuần tuý được, mà không tự biết, tức như là có thầy dạy bảo thừa sức, có cần gì biết rộng mà không thiết yếu vào thân.
Ngươi nếu làm được như thế, đó là cái may của ngươi, mà cũng là cái may của họ Tôn Thất nhà ta, có một người tài như thế.
Nhược bằng không làm được như thế, ấy là cái lỗi của ngươi, không phải là trẫm nói quá đâu. Ngươi nên cố gắng lên và ghi nhớ lấy. Trẫm nói đến thế mà thôi.
Còn như viên thự Binh Bộ thượng thư Lê Hữu Tá, nay đều bổ cho làm công Bộ thượng thư… […] …
Khâm thử! [Vâng ( dụ ) đấy!].
Ngày 27 tháng 11 [Tân tị, Nam lịch], năm Tự Đức thứ 34 (16 tháng giêng 1882)” (68)
.
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đọc đi đọc lại sắc dụ của vua Tự Đức, ông biết tấm lòng của vua, mặc dù thừa nhận ông có tài năng thao lược, vẫn muốn ông bồi bổ thêm uy phong nghiêm chỉnh, lẫm liệt vốn có, và hơn nữa, nhà vua muốn ông phải tự trau dồi thêm về tư tưởng, tâm hồn, phải tự biết tự xét lỗi mình, tự trách lỗi mình, để không những là một dũng tướng, mà còn là một trí tướng (nho tướng), nhân tướng. Cái dũng, cái trí, cái nhân, phải thấm vào hồn, vào mọi hành vi, ý nghĩ, một cách tự nhiên nhi nhiên.
Học vấn ít ư?
Dẫu sao, nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết cũng là ấm sinh Quốc tử giám.
Ông tự nhủ, phải không ngừng tự học.
Và ông biết, ông phải cần đến một người bạn vong niên có một bộ óc uyên bác, một tấm lòng rộng rãi, bao dung, một nhân cách nho phong, quân tử, và cụ thể là người ấy phải yêu dân, yêu nước tha thiết, phải căm thù giặc sâu nặng, phải trung thành với triều Nguyễn. Vị nho tướng, đại trí ấy chính là thượng thư Bộ Hộ, bá tước Kì Vĩ, Cơ mật viện đại thần Nguyễn Văn Tường. Qua ngộ nhận năm ngoái, ông nhận ra ở Nguyễn Văn Tường những phẩm chất đáng quý. Bản thân Tôn Thất Thuyết là ông, ông cũng nhận ra chính ông qua ngộ nhận đáng tiếc ấy. “Người ta ai chẳng có điều lỗi, nhưng quý ở biết sửa lỗi” (68) . Nhà vua chẳng xem việc tự sửa lỗi là một đức tính quý báu đó sao!…
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết trực nhận ra, chính ông và thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường sẽ là đôi cánh cho Con rồng triều Nguyễn – Đất nước Đại Nam bay lên khỏi vực tối bi hận của giai đoạn lịch sử này, trong bối cảnh đau thương chung của các châu Á Tế Á, A Phi Li Gia, Nam Mỹ Lợi Kiên và châu Úc Đại Lợi.
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết chợt nhớ, mới đây, ông có dịp đến gặp thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường tại công đường. Hôm ấy, sau khi trao đổi với nhau một số nét chính của tình hình đang diễn biến và về chính kiến của các triều thần, của nhà vua, thượng thư Nguyễn Văn Tường nói:
- Khuynh hướng chi phối có tính chất quyết định lúc này vẫn chưa xác định rõ “hoà” hay chiến (69). Chính tôi cũng rất bị động. Đã có ý kiến nên tâu xin cất nhắc quan nguyên hiệp đốc đây lên nắm giữ Bộ Binh, và cả kiêm sung đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc. Tôi chưa có thể mạnh dạn tâu xin để quan nguyên hiệp đốc vào Viện Cơ mật – Thương bạc, mà chỉ mong mỏi quan nguyên hiệp đốc sẽ nắm vững Bộ Binh để tăng cường phòng thủ, trong đó quan trọng nhất là việc luyện quân, tổ chức giảng dạy, học tập các kĩ thuật quân sự khác, chú trọng hải phòng Thuận An và sơn phòng Cam Lộ cũng như các cửa biển và vùng trọng yếu miền núi khác. Như quan nguyên hiệp đốc vừa nói, nếu tôi vội đề xuất việc tâu xin, sẽ khác ý quan lớn Trần Tiễn Thành và một số viên quan khác. Quan lớn Trần Tiễn Thành lại rất được nhà vua nghe theo. Nhận định đó hoàn toàn đúng. Nhưng tôi sẽ có cách ủng hộ quan nguyên hiệp đốc một cách kín đáo với tâm ý trung chính của kẻ sĩ. Tôi ủng hộ quan nguyên hiệp đốc cũng vì nghĩa lớn, vì dân nước, vì bản triều. Và chắc hẳn quan nguyên hiệp đốc cũng sẽ ủng hộ tôi với chí hướng đó.– Thượng thư Nguyễn Văn Tường từ tốn nói –. Suốt nhiều năm nay, nhất là từ những tháng cuối năm Canh thìn (1880) đến nay, tôi vẫn chủ trương liên minh với nhà Thanh Trung Hoa. Trong năm Tân tị (1881) vừa rồi, tôi đã vận động, tâu xin để có những cuộc gặp gỡ với Đường Đình Canh, một đại diện của Cục Chiêu thương. Trong những cuộc gặp ấy, tôi lấy danh nghĩa, tư cách là đại thần kiêm quản Cục Thuyền chính. Bởi lẽ, lúc này hơn lúc nào hết, bọn thực dân Pháp đang quyết tâm xâm chiếm Bắc Kì, toan tính “bảo hộ” cả Trung lẫn Bắc. Tình hình đó, theo tôi, không cứng rắn đối phó cũng không được. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường nhìn thẳng vào quan nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết –. Tôi chỉ nhấn mạnh là lúc này, tuy vậy, ở triều thần, đường lối “hoà” hay chiến vẫn chưa được xác định rõ. Chính tôi cũng rất bị động. Nói đúng hơn, tôi vẫn chủ động trong giới hạn được nhà vua ban cho.
- Giặc Pháp thì lăm le hung tợn như thế, ta vẫn chịu khuất như thế với thực lực như thế! Biết làm thế nào…
- Tôi biết rõ quan nguyên hiệp đốc muốn dốc hết sức để tăng cường binh lực. Đó là việc cần làm, cũng là ý nguyện bức xúc của tôi và tất thảy mọi người, từ quan đến dân. Nhưng mấy năm qua, Bộ Binh vẫn trì đọng, trễ nãi, chính đức vua cũng quở trách luôn… Về khách quan, quả thực cũng có những ngáng trở, khó khăn. Ngay một việc cụ thể như thế này, tôi nói để quan nguyên hiệp đốc rõ: Hồi tháng ba năm nay, viên suất đội Tuyển phong Trần Hữu Viết cùng hai mươi người lính vào Gia Định học kĩ thuật súng Tây dương theo “hoà” ước, cũng đã bị trả về, nên cách đây mấy tháng đã phải sang Trung Hoa học tập kĩ thuật quân sự hiện đại đấy (70).
- Việc đó tôi có biết. Nhưng tình hình trong triều thần, riêng quan lớn Trần Tiễn Thành…
- Tôi vẫn nhớ tổng đốc Vũ Trọng Bình thường đọc câu tục ngữ, “ở lâu mới biết lòng người…”. Tôi không dám nói gì hết. Khi bước vào hàng ngũ chính khanh, quan nguyên hiệp đốc sẽ khắc nhận ra tình hình chung và nội bộ bản triều một cách sâu sắc hơn, trực tiếp hơn…
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết đã cuối tuổi bốn hai, sắp bước vào tuổi bốn mươi ba, kể cả một tuổi trong lòng mẹ. Ông biết mình đã đứng tuổi và bản lĩnh đã dạn dày trong chiến trận. Ông ngẫm lại, thấy thượng thư Nguyễn Văn Tường thật đúng như mọi người nói, là hết sức điềm đạm và cẩn trọng.
Bấy giờ, cả hai đại thần, Nguyễn Văn Tường lẫn Tôn Thất Thuyết, không ai hay biết tên khâm sứ Pháp Rheinart đã biết rõ thái độ chính trị của thượng thư Nguyễn Văn Tường: đã trở nên quyết liệt nhưng vẫn trong vẻ mềm dẻo, nhất là từ khi trực tiếp có những cuộc tiếp xúc với Đường Đình Canh. De Champeaux quyết “đập tan tành” thượng thư Nguyễn Văn Tường, bởi nguyên nhân tổng quát là cả quá trình luôn luôn không chịu khuất nhượng người Pháp, và bởi nguyên nhân cụ thể, trực tiếp là vì lẽ đó. Rheinart lại càng rõ hơn cả De Champeaux (71). Ngày 30.11.1881 (09.10 Tân tị, năm Tự Đức thứ ba mươi bốn), y đã viết văn thư phúc trình vào Suý phủ Pháp tại Gia Định: “Khi trở thành đứng đầu phe cứng rắn, chính [Nguyễn Văn] Tường đã xúi Tự Đức coi thường hiệp ước năm 1874, do đó làm cho mối quan hệ Việt – Pháp suy thoái dần” (71) . Đó là sự thật về thái độ và chủ trương chính trị cứng rắn của thượng thư Nguyễn Văn Tường, và “hoà” ước 1874 theo cách hiểu đầy áp đặt của tên thực dân hạng nặng là Rheinart.
“Lúc bấy giờ, sứ nước Pháp là Lê Na [Rheinart] đã sang thay, nói với quan Thương bạc [lúc này là Nguyễn Trọng Hợp]: “Trong hoà ước có nói, nước ta có việc, nước ấy phải giúp, tuy không nói rõ là “bảo hộ”, nhưng ý nghĩa đã bao hàm ở trong. Nay khoản ấy triều đình nước ấy đã định làm, mà làm như thế, nước ấy [nước Pháp] không lấn quyền nước ta, chỉ bắt ta không được giao thiệp với nước khác thôi. Ta nếu không nghe, nước ấy cũng bắt làm cho được” (72) .
“Xúi Tự Đức coi thường hiệp ước năm 1874” có nghĩa là không chấp nhận hai chữ “bảo hộ” theo sự áp đặt của thực dân Pháp. Và “làm cho mối quan hệ Việt – Pháp suy thoái dần” , theo ý Rheinart, là những yêu sách, những hành vi ngang ngược ngày càng tăng của Pháp đều không được thượng thư Nguyễn Văn Tường nhân nhượng, nhất là khi đã đặt được quan hệ liên minh với nhà Thanh.
Quả thật, hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết không ngờ các tên khâm sứ, trong chừng mức nào đó, đều rất nhạy bén đánh hơi được những diễn biến trong triều đình.
Thự thượng thư Tôn Thất Thuyết nhìn lên thanh gươm của ông tổ trực hệ Tôn Thất Hiệp, một danh tướng lừng lẫy với chiến công vang dội một thời, được treo trên vách của gian đặt bàn thờ tổ tiên. Thân phụ ông, cụ nguyên đề đốc Tôn Thất Đính, cũng đã là một vị tướng từng tham dự những trận đánh Pháp khi chúng bắt đầu xâm lược Nam Kì, trước khi “hoà” ước Nhâm tuất (1862) bị kí kết. Thân sinh ông hai mươi năm nay lâm bệnh, tuy chưa đỡ hẳn, lại già đi theo tuổi tác, vẫn không hề nguôi nỗi hận bọn Pháp hung tàn. Ông lại nhìn qua khẩu súng và thanh gươm của mình, cũng treo bên dưới thanh gươm hiển hách ấy.
Ông đọc lại sắc dụ bổ nhiệm của vua Tự Đức với tất cả quyết tâm chiến đấu sục sôi trong tim.
Ngoài thượng thư Nguyễn Văn Tường, thự thượng thư Tôn Thất Thuyết còn có một người đồng chí khác, ấy là thượng thư Bộ Hình, sung đại thần Viện – Bạc Phạm Thận Duật. Ông tiếc rằng, dạo này Phạm Thận Duật đang mắc bệnh tiểu đường (73), tuy ở mức độ còn nhẹ, nhưng sức khoẻ không còn được như trước, lại đang được nhà vua giao cho công việc biên tập lại bản thảo “Việt sử cương mục” đã được Quốc sử quán biên soạn (74). Vũ Nhự, một quan viên sung Nội các, người Hà Nội, đang cùng với thượng thư Phạm Thận Duật miệt mài với bộ sử đồ sộ ấy (74).
Thự thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết nghĩ đến Trương Văn Đễ, Trần Xuân Soạn, Tạ Hiện…

Hết tệp 2 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh
.

TRẦN XUÂN AN


(44) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 48.

(45) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 50 – 52.

(46) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59.

(47) Một dạng khúc xạ tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh. Xem: Lão Tử, Đạo đức kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Nxb. Văn Học, 1991; Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Lão Tử tinh hoa, Nxb. Tp. HCM., 1992.

(48) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 48.

(49) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59 – 62.

(50) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 62 – 63.

(51) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 74, 75.

(52) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 75.

(53) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 66.

(54) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 69.

(55) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 73.

(56) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 75.

(57) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 27.

(58) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 153.

(59) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 83.

(60) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 95.

(61) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 84.

(62) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 85 – 86.

(63) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 60.

(64) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 86 – 87.

(65) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 13.

(66) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 88.

(67) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 89 – 91.

(68) Tự Đức, Tự Đức thánh chế văn tam tập, tái bản với tên sách: Thơ văn Tự Đức (TVTĐ.), tập 2, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 211 – 213.

(69) ĐNTL.CB., tập 36, sđd., 1976, tr. 33.

(70) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 23, 160.

(71) NĐNĐDVP. & TH., sđd., tr. 269 – 270: Lưu trữ AOM. Aix, Amiraux 12923, De Champeaux gửi thống đốc Nam Kì, Huế ngày 06.02.1881 (mùng tám Tết Tân tị); và AOM. Aix, Amiraux 12940, Rheinart gửi thống đốc Nam Kì, Huế ngày 30.11.1881 (09.10 Tân tị, Tự Đức 34), xem thêm G. Taboulet…

(72) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 59.

(73) Theo một số tư liệu trong “Phạm Thận Duật, sự nghiệp văn hóa, sứ mệnh cần vương”, Hội KHLS. VN. xb., 1997. Đây là một cuốn sách có nhiều chi tiết xuyên tạc, bịa đặt đầy ác ý (trong bài của PGS. Chương Thâu) với những cái gọi là tư liệu, không ghi xuất xứ, không được công chứng, nhất là khảo chứng, lại chưa hề giám định, do đó, không thể có giá trị sử học. Nhân đây, cũng xin nói thêm. Khi đọc bài “Khảo sát thêm về Quan Thành văn tập” của ông Nguyễn Văn Huyền, tr. 197 – 208, tôi thấy có hai bài thơ của Nguyễn Văn Tường viết tặng Phạm Thận Duật, chép lại trong văn tập ấy. Hai bài ấy được ông Nguyễn Văn Huyền liệt kê ở tr. 202 và 204. Đó là bài “Tán lí quân vụ Nguyễn Văn Tường tiễn Phạm Thận Duật” “Tặng bố chính Bắc Ninh được về quê thăm nuôi” . Đúng ra, hai bài thơ này Nguyễn Văn Tường vốn đặt nhan đề chữ Hán là: “Tặng Bắc phiên Phạm giá hồi bệnh” “Tặng Bắc phiên Phạm Quan Thành quy tỉnh thân bệnh” . Xin xem: Kì Vĩ quận công thi tập, tư liệu Hội nghị Khoa học lịch sử với đề tài “Nhóm chủ chiến triều đình Huế và Nguyễn Văn Tường", ĐHSP. TP. HCM., 20.6.1996; Trần Xuân An (biên soạn), Kì Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ, vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT. T. VNVCN. TH. & TT.), bản in vi tính, 2000 (chưa có điều kiện xuất bản).

(74) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 83 – 84.

Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2])
.

TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 2
(phân đoạn 2, truyện kí 9)

Xin xem tiếp tệp 3
(phân đoạn 3, truyện kí 9)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (tập III A tệp 1)

Tệp 1 – Tập III Blog A
(PHÂN ĐOẠN 1 TRUYỆN KÍ THỨ 9)

Tiếp theo các tập: từ tập I blog A đến tập II blog C :
http://tranxuananpcdtnvt1a.blogspot.com/

http://tranxuananpcdtnvt2a.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2b.blogspot.com/
http://tranxuananpcdtnvt2c.blogspot.com/


TRẦN XUÂN AN

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)


Truyện – sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử
TẬP III
(TRỌN BỘ BỐN TẬP)

bản sơ thảo hoàn chỉnh, 02.2003
bản tự nhuận sắc, 02.2004


NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HCM.
2004
(trong bản đã xuất bản,
có gác lại một số đoạn chú thích)

THÁNG HAI
HAI KHÔNG KHÔNG BA
THÁNG GIÊNG QUÝ MÙI
NĂM THỨ BA CÔNG NGUYÊN HOÀ BÌNH



TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH
TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN

Tác giả,
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu Phan Huyên)
Phường 3, quận Tân Bình
Thành phố Hồ Chí Minh
ĐT.: [08] 8453955
& 0908 803 908.

Khởi viết từ 08 giờ kém 04 phút, ngày 18.12.2002
(15.11 Nhâm ngọ, năm thứ hai công nguyên Hoà Bình);
Tạm hoàn tất tập III vào lúc 15 giờ kém 05 phút,
ngày 05.01.2003 (03.12 Nh. ngọ HB.3);
Chú thích xong lúc 11 giờ 17 phút,
ngày 15.01.2003
(15.01 Q. mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình
[:HB.3]),
tại thành phố Hồ Chí Minh.


Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng
và bảo vệtừng dòng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.

TXA.


Kính dâng lên bàn thờ cao tổ phụ:
NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886)

Trần Xuân An,
nội hậu duệ thế hệ thứ năm.



PHẦN THỨ NĂM
(1881 – 1883)



BẮC KÌ, TƯỞNG CHỪNG LẶP LẠI

Truyện kí thứ chín

(phân đoạn 1)

1

Năm mới, Tự Đức thứ ba mươi bốn, Tân tị (1881), sau khi cây nêu ngày Tết Nguyên đán được hạ xuống, các công đường ở kinh đô lại bắt tay vào những công việc. Không như những lần khác, năm nay vua Tự Đức không cùng các đại thần thưởng trà, đọc thơ tân niên khai bút.
Cục Thuyền chính do thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường kiêm quản, Chu Đình Kế trực tiếp đảm trách, đang gặp khó khăn trong việc điều động thuyền buôn, thuyền đánh cá của dân ra Bắc Kì tải gạo, vì giá cả không thoả thuận và vì không được bảo hiểm trong khi mạn biển, đường sông phía bắc đầy rẫy nguy cơ hải tặc, thuỷ khấu, nhất là vào độ rét buốt, giêng hai cắn tay không ra máu này. Đây là thời điểm loại giặc cướp theo mùa (1) hoạt động mạnh nhất!
Cũng những ngày đầu xuân, tờ tâu xin thăng thưởng cho những chiến binh có công trạng không lớn của Bộ Binh do thượng thư Trần Tiễn Thành phụ trách bị nhà vua bực bội phê vào bằng bút son đỏ một dòng chữ khá nặng nề. Dòng chữ châu phê ấy như một nhận xét về chính vị đại quan họ Trần: “Xin nhảm, không phải thể thống” (2) . Những chiến công cỡ ấy, các quân thứ, quan tỉnh chỉ cần chiểu lệ tặng thưởng, cấp phát, thông tư lên Bộ, Bộ xét đúng là được, sao lại phải tâu lên vua! Trần Tiễn Thành tái mặt khi nhận lại bản tâu có dòng châu phê ấy. Ông chợt thấy mình đã lẩm cẩm mất rồi! Trần Tiễn Thành cố gắng giấu đi cảm giác đau xót đó.
Đang ngồi họp ở Viện Cơ mật – Thương bạc, mới đến mục thứ hai ấy, thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành chợt thấy rõ chính tuổi già của mình, kém một tuổi đã tròn bảy mươi! Ông nhận ra sự lẩm cẩm trong sự bẽ mặt nhưng vẫn giữ được một kinh nghiệm đối phó khôn ngoan vốn có, đó là vẻ phớt lờ như thể chẳng có gì xảy ra.
Hai thượng thư, sung đại thần Viện – Bạc khác, Nguyễn Chính (Chánh) và Phạm Thận Duật, không khỏi cau mày khi nhận thấy vẻ phớt lờ của Trần Tiễn Thành. Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại quá thừa hiểu thủ thuật đối phó bằng cách phớt lờ, không làm trầm trọng thêm những sơ suất mắc phải, của quan họ Trần. Ông mỉm cười. Vả lại, nhà vua cũng còn cả nể, chẳng giáng phạt gì trước sơ suất lần này của Trần Tiễn Thành.
Nghị trình vẫn được tiếp tục.
Quan tham biện của Viện – Bạc lại đọc bản dụ của vua Tự Đức: “Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Văn Tường kiêm nhiệm nhiều chức, bận nhiều việc, cho giả [:trả] bớt công việc Nha Thương bạc; cho quyền hữu tham tri Bộ Lại là Bùi Ân Niên sung làm quản lí Thương bạc sự vụ đại thần” (3) .
Thượng thư Trần Tiễn Thành vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh, cố kìm nén cảm giác dính vào một âm mưu đen tối, vì ông ta, chứ không ai khác, đã tác động lên nhà vua, theo sự vận động của khâm sứ De Champeaux, để truất Nguyễn Văn Tường khỏi chức ấy. Ông ta hắng giọng rồi nói:
- Dẫu chưa sung làm đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, nhưng với chức năng mới được giao phó, trong các lần họp Viện – Bạc sắp tới, nếu có những vấn đề của Nha Thương bạc, nhất là những vụ việc cần thiết, quan quyền hữu tham tri Bộ Lại Bùi Ân Niên sẽ họp, trình bày và dự bàn với chúng ta. Có lẽ việc bàn giao Nha Thương bạc cho quan họ Bùi, thượng thư Nguyễn Văn Tường sẽ tiến hành ngay sau khi đã có chỉ dụ vừa nghe đọc. Trong năm cũ, trước khi nghỉ Tết, thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng đã rõ việc trả bớt chức vụ này rồi.– Ông ta lại chuyển rất nhanh sang đề mục khác –. Chúng ta lại bàn về kết quả thử nghiệm chất lượng các quặng mỏ.
Quan tham biện Viện – Bạc trình bày các số liệu và kết quả thử nghiệm, khâm phái lãnh sự Nguyễn Thành Ý từ Gia Định tâu về. Trước đây ít lâu, Viện – Bạc đã nhờ tướng suý Pháp tại Gia Định chỉ thị cho các kĩ sư của y giúp ta về việc thử nghiệm chất lượng các mẫu quặng mỏ, vàng, bạc, đồng và than, nhưng đến lúc này, theo lời tâu về từ Gia Định ấy, chỉ có than là dùng được nhưng nhiệt lượng kém, còn lại đều là sỏi đá! Thật ra, tập tâu kết quả thử nghiệm Viện – Bạc đã biết trước và đã lược ghi vào phiến tâu, trình lên vua. Lúc này, bốn đại thần Viện – Bạc nghe rất rõ và đọc tận mắt dòng châu phê: “Mọi việc mượn nhờ người, tóm lại như giấc mơ mộng, không có kì nào được nên việc. Lo toan việc nước sao vụng đến thế!” (4) . Nhà vua vẫn thiết tha ban sắc dụ cho các quan có trách nhiệm trù tính việc thử nghiệm, khai thác mỏ. Nhưng rõ là nhà vua cũng nhận ra phải tự lực, tự cường là chính. “Hoà” ước chỉ là những dòng chữ lừa mị về một thứ gọi là “hữu nghị” đồng nghĩa với xâm lăng!
- Trong một dịp đức vua gặp tổng đốc Vũ Trọng Bình, tôi đã nói lại một lần nữa về cái gọi là “hữu nghị” giữa nước ta và Pháp. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường trầm tĩnh nói –. Ta đã thừa biết chúng cả trăm năm về trước, nhất là hai mươi mấy năm qua, khi chúng đánh chiếm Đà Nẵng, sau đó vào đánh chiếm Nam Kì… Nhưng đến lúc này, vẫn còn muốn thử lại cái gọi là “lòng tốt” của cái gọi là “hữu nghị”… Và đáp số đã quá rõ. Chúng tưởng như người Đại Nam ta chưa từng khai mỏ!… Lòng dạ, tâm địa của bọn Pháp thật quá rõ qua phép thử này. Đúng là trái tim chúng chỉ toàn là sỏi đá và chỉ một có một chút than kém nhiệt lượng. Khốn nỗi, chúng lại ra sức cấm vận ta, ngăn cản ta trong các mối bang giao với các nước. Trong vận hội thế giới này, các nước không học hỏi ở nhau thì làm sao tiến bộ được!
Đó là một vấn đề không phải là mới lần đầu đề cập đến. Việc tìm cách thoát ra khỏi sự bao vây ngoại giao, cấm vận của bọn Pháp cũng đã quá cũ. Biện pháp là phải làm gì trước tình huống ấy một cách có hiệu quả, và làm thế nào để đạt hiệu quả, thật không đơn giản.
Tứ trụ triều đình, bốn đại quan tham mưu, cố vấn cao nhất của vua Tự Đức thật sự đã nhiều lần trăn đi trở lại vấn đề này, tuy mức độ trăn trở, nhức nhối ở mỗi người mỗi khác.
- Vừa rồi, hàn lâm viện tu soạn Phan Liêm lại “mật tâu các việc mở ra buôn bán và góp vốn đi buôn, khai mỏ, học tập (tiếng nói và máy móc)” (5) . Đây là vấn đề nhiều năm trước ta đã từng bàn, nhất là sau khi nhà vua đọc báo Hương Cảng tân văn về mục “chống người dám khinh” , hồi tháng mười nguyệt lịch năm thứ ba mươi mốt (1878) (6). – Quan quản lí sự vụ Bộ Binh Trần Tiễn Thành nói –.
- Đức vua vẫn bảo “việc ngày nay cũng nên làm như thế. Nhưng nói thì dễ, làm thì khó. Nay nên làm thế nào cho chóng có hiệu quả, khỏi lỡ về sau” (5); “bậc lão thành lo toan việc nước, chưa từng không kĩ lưỡng, nhưng cũng mưu tính thế nào để có thể mỗi ngày mỗi tiến. Nếu không tiến thì phải lùi mà thôi. Bàn suông có ích gì!” (5) . Tất nhiên phải ra sức thúc đẩy việc canh tân. Những khó khăn chúng ta đã bàn từ năm Tự Đức ba mươi mốt (1878). Vấn đề vượt lên khó khăn lưu cữu ấy không phải một sớm một chiều. Bước đột phá tương đối dễ vượt lên là học tập ngoại ngữ và cơ khí, kế đến là khai mỏ. Việc doanh thương phải tập dượt. Và khó nhất là vốn!
- Có thể trước mắt, ngoài việc vẫn tiếp tục cử người đi học ngoại ngữ, cơ khí, nên tâu xin cấp ấn “khâm phái quan phòng” cho Phan Liêm ra Quảng Yên khảo sát thực địa mỏ than để tiến hành khai thác mỏ (7).
Cuối buổi họp đầu năm của Viện – Bạc lại là vấn đề tổ chức (8). Thự thượng thư Bộ Hình Phạm Thận Duật, thự thượng thư Bộ Lễ Đỗ Đệ đều được thực thụ. Tả tham tri Hồ Trọng Đĩnh thăng thự thượng thư Bộ Công. Và cũng như tinh thần bàn thảo, tâu lên nhà vua trong tháng cuối năm cũ, mới đây, nay nhà vua đã ra dụ cho thượng thư Bộ Binh Trần Tiễn Thành thôi giữ chức ấy, mà chỉ trông coi công việc Bộ Binh. Bộ Binh do một vị quan khác, làm thự thượng thư, đảm trách trực tiếp. Như thế, từ đây, Trần Tiễn Thành chỉ là một đại thần thuần tuý làm cố vấn và chỉ cố vấn mà thôi. Ông vẫn là đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc, một cơ quan xưa nay vẫn có một chức năng duy nhất là cố vấn, tham mưu cho nhà vua. Ông ta cũng chỉ cố vấn thêm cho Bộ Binh, khi tả tham tri Bộ Binh Lê Hữu Tá (người Bắc Kì) (9) đã thăng thự thượng thư Bộ ấy (8).
Trần Tiễn Thành vẫn biết rằng ông ta đang còn giữ vai trò rất quyết định. Cho dù biết rõ mình đã có khi lẩm cẩm, quanh mình đã lâu rồi có lời đàm tiếu, “con ngựa hết thời vẫn còn luyến tiếc hạt đậu trong chuồng” , ngáng trở những người hiền trẻ tuổi hơn (10), nhưng ông không chịu rời khỏi triều đình. Vua Tự Đức, lạ thay, cũng không muốn ông rời khỏi triều như thế và không nỡ cho ông “về vườn” như thế!
Buổi họp đầu năm Tân tị (1881) của Viện Cơ mật – Thương bạc vẫn chưa tìm ra những giải pháp nào cho tình thế Đất nước thật sự như căn bệnh đã đến lúc trầm kha. Căn bệnh trầm kha, chưa tìm ra liệu pháp!
Thật ra, sau phép thử và đi đến kết luận cuối cùng, Viện – Bạc đã quyết tâm hơn trong việc hướng về sự liên minh với Trung Hoa.

2

Từ năm Tự Đức thứ hai mươi bảy, Giáp tuất (1974), sứ bộ Phan Sĩ Thục đã sang Trung Hoa để tiếp tục củng cố mối bang giao. Điều khoản thứ II và thứ III của “hoà” ước Giáp tuất vẫn được dẫn ra trước sự bực tức của Phủ suý Pháp tại Gia Định và những tên khâm sứ tại Huế, lãnh sự tại Hải Phòng, Hà Nội.
Khoản thứ II: Vua nước Đại Pháp biết rõ vua nước Đại Nam là giữ quyền tự chủ, không phải theo phục nước nào… […] …
Khoản thứ III: … […] … Nếu từ trước có giao thiệp đi lại thông sứ với nước ngoài nào, nay nên theo như cũ, không nên đổi khác… […] … (11)
.
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường đã đề xuất việc lập ra Cục Thuyền chính để giải quyết vấn đề vận tải, tuần tiễu theo cách của Cục Chiêu thương nhà Thanh, trước hết nhằm chủ động công việc lưu thông, phân phối, điều hoà lương thực cũng như những mặt hàng nhu yếu khác, đặc biệt là quân nhu, của Bộ Hộ. Công việc không mới, chỉ là tiếp tục triển khai Nha Tào chính vốn có trước đây, nhưng với một quy mô lớn hơn. Trong công việc này, ông cố gắng liên hệ với Cục Chiêu thương nhà Thanh, vừa hợp đồng vận tải đường biển, đường sông, vừa mở rộng liên minh với nhà Thanh về quân sự, chính trị. Với dạng thức xem ra có vẻ thuần kinh tế (économy) như thế, mối liên minh quân sự, chính trị ấy sẽ qua mắt được bọn Pháp, viễn chinh và cố đạo.
Ngay trong tháng giêng năm Tân tị (1881) vừa qua, quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường đã cùng các vị quan trực tiếp đảm trách khác, lo việc nâng cấp các toà nhà, kho tàng ở Thuận An, vốn đã khởi công xây dựng từ tháng chạp năm ngoái, lo việc khảo sát độ sâu ở cửa biển cuối dòng sông Hương ấy. Đó là một cửa biển có một dải đất cát chạy dài như thành luỹ, che chắn như bình phong trước cửa sông Hương. Dải đất cát ấy lại được cắt ngang làm nên Thai Dương thượng, Thai Dương hạ. Vết cắt tự nhiên ấy là cửa biển Thuận An. Giữa bờ đất liền với Thai Dương là một vùng đầm phá mênh mông, có tên gọi là Tam Giang. Quan Thuyền chính nhận thấy cửa biển dần dần đang bị bồi nông (12). Độ sâu của sông Hương gần cửa biển Thuận An chỉ sáu (6) thước ta, bằng hai mét tư Tây (2m4). Do đó, ông đã tâu xin để Bộ Công trù tính việc mua thuyền nhỏ cho tiện san tải (12).
Khởi đầu việc mở rộng quy mô, đúng với kế hoạch vạch ra và xứng với tên gọi, Cục Thuyền chính vẫn phải vận động thêm thuyền tư nhân của dân. Trước đây, khi kiêm quản Nha Thương bạc, để đối phó với nạn tiền giả (tiền sềnh dị dạng), ông đã chủ trương thu thuế bằng bạc nén, bạc đĩnh, bạc đồng, nên cũng lắm người ác ý hoặc đùa ông là thượng thư Bộ Hộ không thương tiền (thương xót tiền thật bị biến thành tiền giả), chỉ lo thương bạc (thương kim loại quý màu trắng được xác định là ngân bản vị) (13)! Tất nhiên đó chỉ là đùa vui bằng cách chơi chữ. Lần này, ông không muốn ba chữ “quan Thuyền chính” lại bị chơi chữ nữa, dẫu là đùa với thiện ý (với nghĩa tàu thuyền chính đáng). Không muốn bị mang tiếng là cưỡng chế giá cả đối với tàu thuyền của dân, cũng như ép buộc chủ thuyền trong khi không bảo hiểm cho họ trước bão tố, sóng gió, nhất là nạn hải tặc, thuỷ khấu, thượng thư Nguyễn Văn Tường đã tâu xin để đình thần nghị bàn, lấy ý kiến của tập thể làm nghị quyết (14).
“Định lại giá cấp và cách thưởng cho thuyền vận tải:
Khi ấy, sức [:truyền lệnh] làm thuyền vận tải, dân phần nhiều kêu ca và tránh lẩn. Vua đem việc ấy hỏi, quan Thuyền chính là Nguyễn Văn Tường thưa rằng: “Vận tải là việc lớn, mà sự thế ngày càng khó. Thần đã hết lòng lo nghĩ, cũng không xếp đặt được. Nhưng việc ấy quan hệ đến sự cần dùng cho Nhà nước, cho việc quân. Xin sắc [dụ] cho đình thần bàn, để nhờ sự sáng suốt của mọi người”.
Đình thần cho là: “Giá cấp cho thuyền vận tải [của dân] đã không bằng giá cấp cho thuyền buôn nước Thanh, mà lẽ [lỡ?] ra gặp sóng gió phải chia nhau bồi lại, lụy đến vợ con; [vì thế] nên người đều tránh đi, mà ngạch thuyền vì thế giảm ít. Xin cho các tỉnh có ngạch [tàu thuyền] vận tải, hết lòng hiểu bảo, khuyên nhủ, [để dân] lần lượt đóng thuyền, cốt đủ để tải. Giá cấp thì chiểu theo lệ thuyền buôn nước Thanh. Lại phái một chiếc tày thuỷ [bọc đồng, chạy bằng hơi nước] đi lại hộ vệ giúp. [Nếu] không may bị thiệt hại, thực có tình trạng rõ ràng là bị sóng gió thì gia ân miễn cho tội đền. Trong đó người nào có thể xuất tiền của tự đóng một chiếc thuyền đi tải, xin tạm cấp cho [hàm] bách hộ; đủ lượt chở (ba [03] năm sáu [06] lượt), được thưởng thụ tòng cửu phẩm bách hộ. Như thế thì dân mới thích đi hưởng ứng, mà ngạch thuyền sẽ được thưởng [nên đầy] đủ. Còn như thuyền đi phục dịch, [dân] đã từng kêu xin chiểu bản phận [:hải phận tại nơi cư trú] đi tải, không muốn chung vào ngạch thuyền vận tải [của triều đình], xin theo ý muốn [của dân], không cần bắt ép làm gì”.
Vua nghe theo” (14)
.
Tháng ba Nam lịch (1881), vẫn với chủ trương liên minh cùng nhà Thanh nhưng vẫn tự lực, tự cường để tự chủ, quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường phát huy thế mạnh về ngoại giao với quan chức nhà Thanh, vốn đã tôi luyện trong năm năm tiễu phỉ ở biên giới phía Bắc, ông cùng các quan Bộ Lễ đã đón tiếp Đường Đình Canh, phái viên Trung Hoa. Đường Đình Canh là một viên quan nhà Thanh, thuộc tỉnh Quảng Đông, nay đang đến nước ta, với danh nghĩa là người của Cục Chiêu thương.
“Quan Cục Chiêu thương nước Thanh là Đường Đình Canh đến kinh [đô Huế], tâu làm giúp việc vận tải” (15)
Buổi đón tiếp diễn ra tại công đường Bộ Lễ với yến tiệc và phẩm vật do nhà vua ban. Trong bữa tiệc, sau một vài lần nâng cốc chúc tụng, Đường Đình Canh nói:
- “Nước Thanh năm trước vì phương tiện vận tải hiếm, [lắm người] lại cho là người đi buôn vận tải hàng hoá, [rốt cục] lợi về thuyền của người Tây [Âu Mỹ]. [Triều Thanh] bèn đặt ra Cục Chiêu thương, bỏ bạc công ra một trăm vạn (1.000.000) đồng [Mễ Tây Cơ, Mexico] và cho quan dân xuất tiền góp vốn đóng tàu thuỷ để chở lương [thực] công, và đáp hàng hoá tư. Nhân đó, để diễn tập đường biển” (15) .
- Thế thì các quan quý quốc tính lãi suất thế nào? – Quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường hỏi –.
- Vâng, tôi sẽ nói rõ, và nói rõ chủ đích nữa. – Đường Đình Canh hạ thấp giọng, như muốn giữ bí mật, mặc dù số người dự yến hôm ấy đều là quan đại thần Viện – Bạc và Bộ Lễ –. Vâng, thế này, “hàng năm tính lãi, chiểu số tiền gốc, chia lãi đều nhau. Tuy nói rõ là làm việc tải gạo công, thực ra là ngầm chia quyền lợi của người Tây [Âu Mỹ]” (15). Chẳng lẽ, thưa quý đại thần, người Thanh, người Nam ta cứ mãi chịu người Tây [Âu Mỹ] lấn lướt, chèn ép mãi à? “Đến nay, thuyền ở Cục ấy ngày càng nhiều, tải việc công đã thừa, cho nên chia đi các nước tải tư [tải thuê] lấy lợi” (15)
“[Đường] Đình Canh, người tỉnh Quảng Đông, là quan tam phẩm, dự làm việc ở Cục ấy. Lần này, [ông ta] được khâm sai thự lí thông thương đại thần là Lý Hồng Chương (hiện là tổng đốc Trực Lệ, đóng ở Thiên Tân) phái uỷ đi [sang nước ta], và [đồng thời] mang thư [của quan họ Lý] đến cửa tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh. [Ông ta] từ Hương Cảng đến Hải Dương, đáp thuyền buôn đi suốt đến cửa Thuận An. Vua sai bọn Nguyễn Văn Thuý, Trần Thúc Nhẫn đón tiếp” (15) .
Lúc này hai vị quan Bộ Lễ ấy tiếp đãi ông ta bằng yến tiệc, cùng các “quan Viện Cơ mật và Thương bạc bàn định chương trình [vận tải]”. “[Đường] Đình Canh [cũng đã vừa] nói rõ Cục Chiêu thương để [mong được] tải giúp, và tỏ bày cái ý muốn cùng nước ta cùng mưu giàu mạnh” (15) .
Sau một hồi cả bàn tiệc cùng bàn thảo, mặc cả, đã đi đến nhất trí. Quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường nói thật chậm rãi, cố ý để mọi người đều nghe:
- Thế này, “đại khái mỗi năm vận tải bốn mươi hai vạn [420.000]. Tháng giêng bắt đầu tải, đến tháng bảy thì xong. [Lộ trình] từ Hải Phòng đến Thuận An, mỗi trăm (100) phương giá cước là một trăm bốn mươi (140) quan. Thiếu hay mất đều phải đền. Nhưng ở Hải Phòng và cửa Thuận, Cục ấy đều đặt kho, phái người ở đấy làm việc” (15) . Hợp đồng, nói lại vắn tắt là như thế. Hai bên đã nhất trí. Nay xin tuân chỉ “viết thư trả lời, [theo lời vua] bảo [nhờ quan họ Đường] mang về trình viên tổng đốc Quảng Đông, xin làm chủ [nhiệm, chịu trách nhiệm chính] giúp cho” (15) .
- Vâng, nội dung chỉ có thế. – Đường Đình Canh đáp –.
- Vậy xin cùng nâng cốc chúc mừng tình bang giao của hai nước và hi vọng hợp đồng liên minh sẽ thành công.
Tất cả mọi người cùng cạn cốc rượu trên tay của mình.
“Khi về, [sau khi nhà vua] đã ban yến, lại đem bạc hai trăm (200) lạng; quế tốt Thanh, Nghệ, Quảng, mỗi thứ ba (03) phiến; trầm hương, kì nam, mỗi thứ mười (10) lạng để tặng. [Đường] Đình Canh chỉ nhận các thứ quế, trầm hương, kì nam, còn bạc thì cố từ chối” (15) .
Dẫu vậy, cố nhiên nhà vua, triều đình, quan Thuyền chính Nguyễn Văn Tường vẫn xem việc hợp đồng vận tải thực sự không phải là kế lâu dài, vận tải là việc ta phải làm lấy (16), và cái chính là liên minh quân sự, chính trị chứ không phải vận tải.
“Hiện nay vời thuyền nước Thanh, hình như là kế trước mắt, không phải là cách lâu dài…” (16) .
Thượng thư Bộ Hộ kiêm quản Cục Thuyền chính cảm thấy cuộc gặp bàn vừa rồi với Đường Đình Canh chính là bước đầu xác lập rõ hơn quan hệ với nước Thanh để tạo thế ngoại giao đối trọng. Ông mỉm cười, hiểu rõ ông vẫn đang trực tiếp tiếp tục làm công việc ngoại giao, nhưng hướng mạnh hơn về phía Trung Hoa, so với mấy năm qua.

3

Tình hình ở Bắc Kì từ mấy năm rồi đang căng thẳng dần. Đến lúc này, ngoài nhiệm vụ ngoại giao mở về phía Trung Hoa mạnh hơn, rõ hơn, thượng thư Bộ Hộ kiêm sung đại thần Viện – Bạc Nguyễn Văn Tường còn phải giải trình, đề xuất, được chuẩn y, và chỉ đạo giải quyết, thực hiện các công việc có tính chất sự vụ thuộc Bộ Hộ, đồng thời vẫn tham mưu, cố vấn giải quyết các vấn đề thuộc các bộ khác.
Bọn Pháp vẫn không phải không ranh ma, khi cho các tên y bác sĩ lấy danh nghĩa là du khảo bác vật, đi từ Nam đến Bắc, thực ra là đi dụ dỗ dân thượng du từ Biên Hoà đến Bắc Kì. “Hắn đi không phải học bác học. [Hắn] cũng nghi ta đi kinh lí miền núi. Và [hắn] đi tìm đường dụ dỗ dân…” (17) . Do đó, tuân chỉ nhà vua, Viện – Bạc thông tư cho các Nha Sơn Phòng, Doanh điền, Điển nông phải canh phòng, xem xét cẩn mật hành tung của bọn y bác sĩ thực dân này. Mấy tháng sau, Phan Trung ở Bình Thuận lại tâu ra, xác nhận chính xác là Pháp dụ ngầm các người Thượng (18)!
Khâm sai của Chính phủ Pháp lại đến Hải Dương thương thuyết về việc buôn bán! Thương mại “hữu nghị” gì nữa, trong khi mục đích chính của tập đoàn lãnh đạo chóp bu ở nước Pháp, vốn là những tên đại biểu của giới tư sản tài chính Pháp, gồm tư sản ngân hàng và tư sản công nghệ, doanh thương, đang sôi sục tham vọng xâm chiếm (thuộc địa hoá hoặc bán thuộc địa hoá), để khai thác tài nguyên khoáng sản vốn rất phong phú ở Bắc Kì, để bóc lột sức lao động rẻ mạt, không công ở nước ta, và để có thị trường bán ra các hàng hoá sản xuất dư thừa với lợi nhuận cao, mua về nông lâm sản giá cả thấp. Tên khâm sai của Chính phủ Pháp Lô Cờ Lơ (?)(19) thực chất đang khảo sát thực địa Bắc Kì với mưu toan quân sự.
Đầu tháng hai Tân tị (1881) là thế. Đầu tháng ba, một tên trong nhóm Lô Cờ Lơ là Cơ Ki Loặt (?) (20) lại rời Hải Dương cùng các tỉnh khác ở Bắc Kì như Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, rồi y lại đến hai sở Thương chính, Hải phòng Bình Định để kiểm xét thuế lệ (20)! Chúng coi như nước ta là chốn không ai có thể ngăn cản gót chân thực dân của chúng!
Trong khi đó, thuyền buôn nước Thanh lại tổ chức mua đứt nhân công, vốn là những người nghèo khổ, cùng quẫn ở Nghệ An, đến bảy mươi hai người! Tàu tuần tiễu của Pháp bắt được, giải giao cho khâm phái lãnh sự Nguyễn Thành Ý ở Gia Định (21). Tấn thủ cửa Quyền tỉnh Nghệ Bùi Đức Tu phải bị giáng bốn cấp, đổi đi nơi khác. Các quan tỉnh, huyện ở Nghệ cũng bị giáng cấp, cho lưu nhiệm (21).
Đất nước đang bị kẹt giữa hai thế lực một cách đau đớn. Trong hai thế lực đó, có vai trò rất rõ của giới doanh thương người Pháp, người Hoa nước Thanh!
Tuy vậy, không cách nào khác là vẫn vừa chống đỡ vừa tranh thủ ngoại giao với cả Pháp lẫn Thanh để tạo nên thế đối trọng, giảm bớt lực ép từ hai phía. Triều đình vẫn cử Trần Hữu Viết vào Gia Định học tập kĩ thuật và phương pháp sử dụng súng Tây (22), vẫn tìm cách liên hệ cùng Đường Đình Canh thuộc Cục Chiêu thương Trung Hoa. Triều đình, nhất là Bộ Binh, Bộ Công, cố sức luyện quân theo chỉ dụ: “Nay vận hội thế giới, tất phải quân khoẻ, mới có thể làm cho phương xa sợ phục” (23) . Không cách nào khác, từ rất lâu, thượng thư Nguyễn Văn Tường đã nhận thức rất rõ một chân lí đơn giản là vậy: phải canh tân kĩ nghệ, thúc đẩy thương mại và tăng cường quân lực.
Ngoài việc phải đối phó với cả Tây [Âu Mỹ] lẫn Tàu, thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường còn phải cùng các quan thuộc bộ lo việc tăng nguồn thu cho ngân sách ở việc khai thác tài nguyên khoáng sản, chứ không chỉ trông vào nguồn thuế. Ba mỏ sắt ở Bắc Ninh đang được triều đình cho lãnh trưng và trực tiếp quản lí khai thác, lại cần hạ mức thuế ở ba mỏ ấy để kích thích việc khai thác (24). Ngoài ra, rất cần phải giải quyết vấn đề trì đọng trong việc xét xử tranh chấp ruộng. Vì tranh chấp, chậm xét xử, nên ruộng bị bỏ hoang mùa này sang vụ khác, tạo nên sự lãng phí lớn (25). Để tăng nguồn thu cho ngân sách, cũng là để tạo công bằng trong sản xuất, phải kiểm xét số ruộng ẩn lậu (không khai vào sổ điền) (26).
Thượng thư Nguyễn Văn Tường cũng đã tâu xin điều chuyển Bùi Ân Niên về Bộ Hộ của mình (27), cũng với hàm thự hữu tham tri, vẫn kiêm quản đại thần Nha Thương bạc, để thuận lợi cho quan họ Bùi trong công tác. Nguyễn Trọng Hợp thế chân ở Bộ Lại, thăng tả tham tri bộ ấy. Lê Tiến Thông, vốn là tuần phủ Hải – Yên, sau khi được đình thần xử án, vụ án Phạm Phú Thứ và ông ấy, nay đã được về làm biện lí Bộ Hộ (28) cùng thượng thư Nguyễn Văn Tường.
Cũng như Lê Tiến Thông, sau cuộc nghị xử, Phạm Phú Thứ bị giáng xuống tả tham tri, làm ở Bộ Binh (28).
Đó là một vụ án nhà vua vẫn quy kết Phạm Phú Thứ hoang báo về âm mưu Tây dương và thiên vị với khách thương người Hoa, với người bà con bên ngoại là Lương Văn Tiến (chở gạo về Quảng Nam cho người làng, người họ) (28). Tuy nhiên, không chỉ xét công lao, nhà vua đến lúc này cũng đã tin chắc Phạm Phú Thứ không hoang báo chút nào về thực trạng bọn Pháp và các nước Âu Mỹ khác đang mưu toan xâm lược Bắc Kì, đòi sửa đổi “hoà” ước, thương ước Giáp tuất 1874 mà chúng cho rằng còn bất lợi cho chúng. Do đó, mức án đã giảm nhẹ rất nhiều.
Dẫu sao, Phạm Phú Thứ và Lê Tiến Thông đều đã được làm việc tại triều.
Cuối tháng ba, Tôn Thất Thuyết về kinh đô Huế. Lẽ ra, ngay từ năm Tự Đức thứ ba mươi hai (1879), hiệp đốc Tôn Thất Thuyết đã phải về kinh lo việc chấn chỉnh quân binh, nhưng ông bị bệnh, phải chữa trị tại quê vợ ở Thanh Hoá, và cũng vì vua cho rằng ông vẫn còn tính khí nóng nảy. Đến lúc này, tình hình đã thêm căng thẳng ở Bắc Kì trước âm mưu xâm lược lần thứ hai của Pháp, ông đã về kinh đô. Nhà vua vốn rất ưu ái và quý trọng tài năng cầm quân đánh trận của Tôn Thất Thuyết, rất tâm đắc với nhận xét trước đây (1873) của Nguyễn Văn Tường về ông: “Tôn Thất Thuyết, theo việc quân lâu ngày, am tường chinh chiến, binh lính tướng tá đều sợ tánh nghiêm, nên cũng gọi là tay năng nổ. Nguyễn Đình Thi, gặp việc, nhận rõ chân tướng, chẳng nề gian hiểm, từng ở lâu biên địa, tình thế khá quen, nhưng việc dùng binh không nghiêm trọng bằng Tôn Thất Thuyết” (29) . Tuy nhiên, không chỉ với Tôn Thất Thuyết, mà với cả các đại thần khác, mặc dù trong thâm tâm và ở những lúc khác vốn rất quý trọng, khen ngợi, lúc này nhà vua cũng vẫn với giọng điệu hoàng đế, lại theo kiểu “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào”! Mới xem ra, thấy chừng như vua Tự Đức bất nhất, dễ cáu gắt bất chừng, nhưng thật ra, khen ngợi hết lời hay quở mắng thậm tệ cũng đều xuất phát từ lòng ưu ái; có điều, nhà vua không muốn người được ưu ái lại sinh ra kiêu căng, tự mãn.
“Hiệp đốc trước là Tôn Thất Thuyết từ Thanh Hoá về kinh (30):
Năm thứ ba mươi hai, [ông] xin về tỉnh Thanh Hoá chữa bệnh. Đến nay, về kinh, xin vào chiêu bái. Vua bảo rằng: “Còn thác bệnh để tránh, chưa chịu cảm ngộ, không cho”. [Tôn Thất] Thuyết sợ, liền trần tình xin tha tội. Vua bảo rằng: “Ngươi vốn có tính kiêu căng, hẹp hòi, hay nghi ngờ người, đến nỗi chân hoả trong tim bốc lên, mê hoặc lệch về ngã khác [:không trung chính, mà thiên lệch về ngã này hay ngã nọ, theo chủ quan], tính khí bất thường. Hiện nay bệnh ngươi ra sao? Xin nghỉ bao lâu cho vừa? Lại tâu lên!”. [Tôn Thất] Thuyết dâng sớ xin tâu rằng: “Tôi lâu nay bị ốm yếu, rút lại không làm được việc gì, sợ phụ lòng nhà vua gây dựng cho. Xin ban ơn cho nghỉ một năm nữa, chữa khỏi, lập tức xin làm việc ở kinh, để giãi tỏ lòng quyến luyến mong mỏi”. Vua bảo rằng: “Ngươi phải điều dưỡng nhiều và học hỏi thêm, mới có thể nên người được” (30)
.
Lúc gặp lại thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường, kể từ những năm tiễu phỉ trước khi kí kết “hoà” ước Giáp tuất 1874 đến nay, Tôn Thất Thuyết rất áy náy nhớ lại lời dụ của vua Tự Đức năm ngoái. Bấy giờ, “vua dụ rằng: “Thuyết ít học, không thông, lại có tật nóng nẩy, nói càn, sao đáng kể. Lời đồn ở kinh đô cũng không có căn cứ. Người xưa không thể dẹp được lời gièm, cho nên nói: “Cứu rét không gì bằng mặc hai lần áo cừu, dẹp lời gièm không gì bằng tự phải tu tỉnh”” (31) .
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường vẫn thân mật nói với nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết:
- Nhắc chi chuyện cũ! Vả lại, tâu hặc là trách nhiệm, nghĩa vụ và là một quyền đã được thể chế hoá. Hãy tưởng tượng các quan không ai tâu hặc ai, thì bản triều và nhân dân sẽ đi đến đâu. Quan rất thối nát, dân rất khốn khổ. Cho nên, tâu hặc nhau là rất tốt. Mọi lời tâu hặc đều được phân tích, điều tra, xác minh, chứ đâu phải ai cũng sàm tấu (tâu bậy, xúc xiểm) để hại người được. Tôi chẳng phàn nàn chi về việc được quan nguyên hiệp đốc tâu hặc về nạn tiền giả (tiền sềnh) cả. Việc ấy đã được làm sáng rõ. – Thượng thư Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười nói –. Còn lời quở trách của nhà vua vừa rồi, hơi quá nặng vì nhà vua vốn xử sự với quan nguyên hiệp đốc theo cách người thân thích ruột rà trong nhà, trong dòng họ nhà vua đó thôi.
- Vâng, tôi cảm ơn quan thượng thư Bộ Hộ. – Nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết xúc động nói –. Qua đó, mới hiểu tấm lòng của quan thượng thư hơn. Ở đời, có khi đổ máu rồi mới nhận ra tri kỉ, tri âm. Từ đây, xin mạo muội được tự xưng là bạn vong niên với quan thượng thư.
Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường cười lớn một cách niềm nở:
- “Trường đồ tri mã lực” (đường dài mới biết ngựa hay) . Ngạn ngữ viết như thế. Tục ngữ cũng thường nhắc nhở mọi người: “Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới thấu lòng người ra sao” . Mong rằng chúng ta sẽ luôn có dịp làm việc cùng nhau tại triều. Tôi lớn hơn quan hiệp đốc đến mười lăm tuổi, vẫn là đồng sự và bạn vong niên với quan hiệp đốc. – Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường lại mỉm cười –. Việc tâu hặc là một cơ chế từ lâu trở thành nền nếp tốt, có hiệu quả, với mục đích giúp các quan kiểm tra, giám sát lẫn nhau, để giữ nhân cách, đạo đức cho nhau. Nhờ đó, dân đỡ khổ vì các thói tệ của quan, và đồng thời để tăng cao hiệu suất trong việc quan. Cũng nhờ vậy, dân dư ăn thừa mặc bởi quan không biếng lười, trễ nãi. Quan hiệp đốc cũng như tôi đã quá quán triệt cơ chế và mục đích của việc tâu hặc, là như thế. Xin quan hiệp đốc đừng áy náy. Chỉ mong rằng chúng ta sẽ cẩn trọng, cân nhắc, đắn đo hơn trong việc tâu hặc.
Họ nhìn nhau, cùng mỉm cười thân thiện như những năm cùng tiễu phỉ ở biên giới phía bắc trước đây.
- Hiện nay, quốc nạn tiền giả (tiền sềnh, dị dạng) vẫn còn gay go lắm.
- Vâng, tôi biết. Đúng là một quốc nạn.
- Mong rằng quan nguyên hiệp đốc một khi đã về kinh, sẽ giúp cho Bộ Hộ cũng như cho cả triều đình những kế sách đối phó, may ra…
- Thật lòng là không dám. Quốc nạn này không đơn giản chút nào. Suốt mấy tháng nay tôi để tâm tìm hiểu, và thấy trước đây, bản thân tôi quá sức hồ đồ, nông cạn, nói càn…
- Tôi cũng nói thật lòng. Thực trạng vẫn còn đó. Có thể tìm hiểu, điều tra, tìm thấy nguyên nhân và hậu quả đang diễn tiến. Ấy là tôi cầu mong sự hiến kế, chứ không nhằm nhắc lại chuyện tâu hặc cũ. Tâu hặc là tốt. Nhà vua cũng thường được các quan dâng sớ xin đức vua tự trách.
- Vâng, phê bình và tự phê bình là một cơ chế và nền nếp rất tốt. Và phải quở trách, tâu hặc lại sự tâu hặc như tôi đã tâu hặc không đúng và đã bị nhà vua quở trách, bị các quan tâu hặc lại cho rõ sự thật.
Hai người đã thật sự thấu lòng nhau.
Một quý của năm Tân tị (1881) đã trôi qua.

4

Việc viên hành nhân linh mục Nguyễn Hoằng bị cách chức mọi người đều biết lí do: chỉ vì y mật báo cho Viện – Bạc theo ý kiến hăm doạ và sự thúc đẩy của tên khâm sứ De Champeaux. De Champeaux “nhiều lần qua Nha Thương bạc xin vào chầu [vua] tâu việc. Quan Viện Cơ mật và Thương bạc bàn là cho vào tận nơi tâu việc không phải là thể lệ, chỉ cho vào triều yết thôi. Viên sứ ấy [De Champeaux] lại nói, chỉ được vào triều yết thì xin thôi. [Nguyễn] Hoằng nhân đó bẩm kín với quan Viện Cơ mật và Thương bạc rằng chủ suý nước ấy [nước Pháp] đưa thư đến nói ta không cho viên sứ ấy vào chầu [trực tiếp] tâu việc, tất đem tàu binh đến ức hiếp. Quan Thương bạc [Bùi Ân Niên] cho riêng người thông ngôn khác đến viên sứ ấy hỏi kín, thì không có chuyện ấy. Vua ghét là giáo giở, xảo quyệt, cho nên bắt tội [Nguyễn Hoằng]” (32) . Thật ra, Nguyễn Hoằng bị kết tội không oan chút nào cả. Và tên khâm sứ De Champeaux chối việc y sai Nguyễn Hoằng đến bẩm kín hăm doạ cũng chẳng lạ gì. Không phải riêng De Champeaux, linh mục Nguyễn Hoằng, các tên thống đốc Pháp tại Gia Định, khâm sứ Pháp tại Huế và các giám mục, linh mục khác đều muốn trực tiếp tâu việc với vua Tự Đức, không phải thông qua Nha Thương bạc, Viện – Bạc! Nhưng triều đình có một cơ chế là không thể trực tiếp tâu việc với vua như thế, để mọi việc đều phải được các đại thần cùng vua bàn bạc kĩ. Có khi, vua tôi phải cẩn trọng bàn bạc hàng tháng, trước khi quyết định. Không thể để một cái gật đầu, một lời đồng thuận tại chỗ, ngay lúc tiếp chuyện, vua lại phải đính chính. Một lời vua nói là đinh đóng cột, do vậy phải được bàn luận cẩn trọng, trước khi ban ra. Mặt khác, ngay Nguyễn Trọng Hợp, đại thần quản lí sụ vụ Nha Thương bạc mới, thay Bùi Ân Niên, cũng phải nói: “Các việc giao thiệp, đã do quan đại thần ở Viện Cơ mật hội đồng xét định [:bàn luận, lấy ý kiến tập thể], tâu cho thi hành…” (33) . Cố nhiên, mọi việc trọng đại đều không thể vội vàng, bất cẩn, một mình quyết định được.
De Champeaux điên tiết vì không thể dễ dàng thuyết khách trực tiếp với vua, hòng dễ bề chi phối vào các sắc dụ. Vua Tự Đức cũng rất đỗi giận dữ trước thái độ của De Champeaux. De Champeaux sau khi nhậm chức tại Huế khoảng mười tháng rưỡi, đã phải ra Bắc Kì làm lãnh sự ở Ninh Hải (Hải Dương). Rheinart lại làm khâm sứ thay y. Rheinart cũng là một tay trước đây không vừa vặn gì, thậm chí ý đồ thực dân của y còn ghê gớm hơn, nhưng y còn biết kiềm chế một cách tạm gọi là bình tĩnh hơn De Champeaux. Vua Tự Đức liền gợi ý cho Nguyễn Trọng Hợp thuyết phục Rheinart: “… Nghĩ Hoắc sứ [khâm sứ Hoắc Đạo Sinh (Philastre)] ở đây không lâu, còn biết nhân cơ hội lập công, để lại tiếng khen chung là danh thần hai nước. Huống chi [Rheinart,] hắn ở đây lâu nhiều hơn, há không làm được một việc tốt để tiếng mãi mãi hay sao? Còn như đã không chịu giúp, lại theo mà lấn bức, tưởng không phải là bậc quân tử; hay người [ta, vốn thiên lương là] có nhân, lại dụng tâm [bất nhân] thế, thì đã phụ một lời tri kỉ [, tri bỉ], chẳng cũng nhiều lắm ư? Nên đem ý ấy bảo cho hắn biết…” (34) .
Mặc dù không trực tiếp kiêm sung quản lí Nha Thương bạc nữa, nhưng đại thần Viện Cơ mật – Thương bạc Nguyễn Văn Tường luôn nắm chắc những thông tin và góp phần kiến giải các vấn đề ngoại giao nẩy sinh. Ông vẫn là một trong bốn tứ trụ triều đình ở Viện – Bạc chỉ đạo cho Nha Thương bạc.
Tình hình ngoại giao với nước Pháp đã đến lúc càng bị đẩy đến chỗ gãy đổ, bởi âm mưu xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ với vẻ trắng trợn!
Ngoài việc lập thế đối trọng giữa Pháp và Hoa, một hướng mở khác về ngoại giao là nước Anh. Còn Y Pha Nho (Tây Ban Nha) trước đây tuy có dính líu sâu hơn vào sự xâm lược nước ta, hiện nay tuy còn quan hệ bằng quốc thư, văn thư, vẫn chỉ là dưới mức thứ yếu, trước tham vọng độc quyền ngoại giao của Pháp. Để mở ra hướng ngoại giao với thực dân Anh và cũng để tìm cách nâng cao trình độ ngoại ngữ, cơ khí cho thanh niên trong nước, triều đình đã cử Phạm Bính phụ trách đưa người xuất dương cầu học. Phạm Bính chần chừ rồi cũng nhận trách nhiệm đưa mười hai (12) học sinh (nhóm trưởng là Trương Văn Thanh) đến Hương Cảng, nhờ Thạch Thanh Tuyền, một người Thanh (Hoa), quản lãnh đến học tập tại một trường học do người Anh thành lập tại đó (35).
Cũng để đẩy mạnh thêm một bước về canh tân, ngoài việc mở rộng ngoại giao, cử người đi ra nước ngoài học tập, triều đình còn cho dịch, khắc in bốn bộ sách Tây: “Vạn quốc công pháp” (36), “Hàng hải kim châm”, “Bác vật tân biên”, “Khai môi yếu pháp” . Đó là các cuốn sách biên soạn về công pháp quốc tế, kĩ thuật đường biển, về vạn vật học và về phương pháp khai mỏ.
Tháng tám năm Tân tị (1881), thượng thư Bộ Hộ kiêm sung đại thần Viện – Bạc lại tâu lên nhà vua dự kiến sẽ gặp lại Đường Đình Canh (37), đại diện của Cục Chiêu thương Trung Hoa, để tiến hành thêm một bước ngoại giao mở rộng dưới hình thức hợp đồng vận tải.

5
Trong những tháng thuộc các quý sau trong năm Tân tị (1881) này, quốc nạn tiền giả (tiền đồng dị dạng) vẫn hoành hành! Mặc dù thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Tường đã từ lâu lấy bạc, một kim loại quý, làm chuẩn. Thuế nộp từ những hợp đồng lãnh trưng cũng phải bằng bạc đồng, bạc nén, bạc đĩnh để lưu trữ trong kho của triều đình. Đó là một bước xác định ngân bản vị. Với kim loại bạc, cũng như vàng, người ta dễ phát hiện sự giả mạo. Nhưng bọn gian thương lại xoay qua phá rối cách khác. Tháng bảy nguyệt lịch, mới ban bố lệnh dụ về định lệ thưởng người phát hiện tiền giả (38). Tháng tám tiếp theo, lại một định lệ khác, trong đó nhấn mạnh cả việc bọn gian thương đến nay lại vơ vét cả vàng bạc đem ra nước ngoài, phải cấp tốc ngăn chặn. Cùng máu đồng, nạn chảy máu vàng, máu bạc đã diễn ra!
“Định lại lệnh cấm tiền đồng dị dạng nhập cảng và đem vàng bạc xuất cảng:
Lúc bấy giờ ngoài việc cấm tiền đồng dị dạng, [nạn này] vẫn còn gian lận, mà vàng bạc phần nhiều bị người buôn nước Thanh mua chở đem đi, nên giá vàng bạc ngày càng đắt. Bộ Hộ [thượng thư Nguyễn Văn Tường] dâng sớ nói về tệ ấy, cho nên sức [:truyền lệnh] lại cho các người coi đồn không được sơ suất, ẩn lậu; và sức cho lại [thư lại], dân, khi thu thuế, nộp thuế hay đổi chác, nếu thấy có tiền đồng mẻ hay mỏng và không phải chất đồng, phải chọn ra, không cho để lẫn. Còn như người nước Thanh đi lại buôn bán, mang theo vàng bạc phải có giấy tư mới cho, nếu ẩn lậu không báo và mang trộm, mà bắt được thì thưởng phạt theo như lệ chở trộm tiền” (39)
.
Pháp lại che chở cho người Phú Yên tải trộm tiền đồng dị dạng ở Bình Định, lại cả gan đánh cả nhân viên ta đến truy bắt (40)! Điển nông sứ Nguyễn Thông trong tháng bảy nhuận lại tâu ra: Người buôn nước Thanh đem tiền đồng dị dạng chứa ở Gia Định thuộc Pháp, thông đồng với dân Bình Thuận, Khánh Hoà. Nguyễn Thông đề nghị phải gửi văn thư đến cả ba nơi: Tổng đốc Lưỡng Quảng, lãnh sự Anh ở Hương Cảng, tướng suý Pháp ở Gia Định (41). Nhưng Nguyễn Thông không biết rằng cả ba nơi ấy không phải không có sự tác động ngầm của Pháp để phá rối tiền tệ nước ta. Tháng chín, thượng thư Nguyễn Văn Tường lại tâu xin đặt chức tuần kiểm ở các cửa biển Bình Thuận, ban lệnh dụ cho khâm phái Nguyễn Thành Ý tại Gia Định xét kĩ thuyền buôn chở tiền giả (42). Đó là những biện pháp cấp thời, nhất là xác định chính Gia Định thuộc Pháp là “căn cứ” của nạn tiền giả này. Phải chăng bọn tư sản ngân hàng Pháp ở Ngân hàng Đông Dương (vừa thành lập) (43) đã tác động thêm vào sự gây rối tiền tệ này? Lại một lần nữa, quan thượng thư Bộ Hộ cố tìm ra manh mối về kẻ thù giấu mặt.
“Tả đạo” đánh vào óc mê tín và ý thức chính trị xuẩn động, tiền tệ lại đánh vào lòng hám lợi đơn thuần của người dân và quan lại, nhưng gây tác hại không nhỏ, đúng hơn là rất nghiêm trọng, đến tình hình chính trị – xã hội. Bọn thực dân đủ loại cố tạo tâm thế bất ổn trong dân chúng, để bọn giặc ngoại xâm là chúng dễ dàng thao túng, chiếm đóng!
Những biện pháp chống đỡ trước quốc nạn và thủ đoạn ngoại xâm này vẫn chưa hữu hiệu. Đó là nỗi đau lòng nhức óc, trước hết, là của người đứng đầu Bộ Hộ, thượng thư Nguyễn Văn Tường.
Đến nay, nguyên hiệp đốc Tôn Thất Thuyết đã về kinh đô Huế, càng nhìn rõ thực trạng, có dịp gặp gỡ, trao đổi với các quan tại triều, kể cả các đại thần, ông thực lòng hối hận về lời tâu hặc trước đây vì nghe theo lời bọn giặc miệng. Ông cũng không tìm ra được kế sách gì để góp ý cho Bộ Hộ và cho cả đình thần.

Hết tệp 1 truyện kí 9

Viết đến dòng chữ này vào lúc 16 giờ 26 phút,
ngày 29.12.2002 (26.11 Nh. ngọ, HB.2),
tại thành phố Hồ Chí Minh.


TRẦN XUÂN AN


(1) Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVP. & TH.), UB.KHXH. TU. Tp. HCM. xb., 1993, tr. 253.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL.CB.), tập 35, bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., Hà Nội, 1976, tr. 5.

(3) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 6.

(4) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 6.

(5) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 12 – 13.

(6) ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 165 – 167.

(7) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 26.

(8) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 6.

(9) Quốc sử quán triều Nguyễn và Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục (QTHKL.), bản dịch: Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm, hiệu đính: Cao Tự Thanh, Nxb. Tp. HCM., 1993, tr. 270. Nguyên là Lê Thế Tá.

(10) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), bản dịch Viện Sử học, tập 4, Nxb. Thuận Hoá, 1993, tr. 169 – 170.

(11) ĐNTL.CB., tập 33, sđd., 1975, tr. 12…

(12) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 8.

(13) NĐNĐDVP.&TH., sđd., tr. 269.

(14) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 17 – 18.

(15) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 20 – 21.

(16) ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 126 – 128.

(17) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 9.

(18) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 42.

(19) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 11.

(20) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 18.

(21) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 23.

(22) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 23.

(23) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 18.

(24) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 19.

(25) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 25.

(26) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 15.

(27) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 22.

(28) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 13, 26.

(29) Châu bản, dẫn theo: Các báo cáo khoa học (CBCKH.), bài “Tìm hiểu thêm về Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” và bài “Nguyễn Văn Tường trong hai sự kiện tứ nguyệt tam vương và thất thủ kinh đô” của Trần Viết Ngạc, Hội thảo khoa học về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Huế, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên – Huế, 02.07.2002., tr. 18, 55.

(30) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 23.

(31) ĐNTL.CB., tập 34, sđd., 1976, tr. 370.

(32) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 32 – 33.

(33) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 38 – 39.

(34) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 44.

(35) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 26 – 27, 33.

(36) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 49.

(37) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 54 – 55.

(38) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 53.

(39) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 57.

(40) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 44 – 46.

(41) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 47 – 48.

(42) ĐNTL.CB., tập 35, sđd., 1976, tr. 65.

(43) Dương Kinh Quốc, Việt Nam, những sự kiện lịch sử (VN.NSKLS), tập 1, Nxb. KHXH., 1981, tr. 173 – 175. Xem thêm: GS. Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng (CXL.), Nxb. Tp. HCM. tái bản, 2001, tr. 327 – 341, 506. Dẫn theo CXL., tr. 336: Một nhà văn Pháp tiến bộ rất quen thuộc với nhiều thế hệ người đọc Việt Nam chúng ta, Anatole France, đã viết rất chí lí: “Ở Bắc Kì năm 1885, người Pháp chẳng những phải chết cho nhà băng Đông Dương mà cho cả bọn chủ kĩ nghệ”.

Chú thích xong lúc 08 giờ ngày 14.02.2002
(13.01 Quý mùi, năm thứ hai công nguyên Hòa Bình [:HB.2]).


TRẦN XUÂN AN


Hết tệp 1
(phân đoạn 1, truyện kí 9)

Xin xem tiếp tệp 2
(phân đoạn 2, truyện kí 9)
thuộc TẬP III bộ sách “PCĐT. NVT.”.